Giá vàng hôm nay trong nước
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h30 ngày 26/7/2026, giá vàng miếng SJC và vàng nhẫn tròn trơn tăng mạnh so với phiên sáng qua, giao dịch dao động từ 139 - 143 triệu đồng/lượng.
![]() |
| Giá vàng hôm nay 28/7/2026: Giá vàng áp sát mốc 144 triệu đồng/lượng, thế giới quay đầu giảm |
Cụ thể, giá vàng miếng SJC tại Bảo Tín Mạnh giao dịch ở mức 139 - 143 triệu đồng/lượng (mua - bán), tăng mạnh 1,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC tăng mạnh 1,5 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 139 - 143 triệu đồng/lượng (mua – bán). Chênh lệch giữa 2 chiều mua – bán ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý giao dịch quanh mức 139 - 143 triệu đồng/lượng (mua - bán), tăng mạnh 1,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Ngoài ra, giá vàng SJC tại Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) giao dịch ở mức 139 - 143 triệu đồng/lượng (mua - bán); giá vàng miếng SJC Hà Nội tại Vàng bạc đá quý Asean giao dịch ở mức 139 - 143 triệu đồng/lượng (mua - bán);...
Đối với vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn ép vỉ của Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch quanh mức 140,1 - 144 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng chiều mua vào và tăng 1,3 triệu đồng/lượng bán ra. Chênh lệch mua – bán ở mức 3,9 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay nhẫn tròn trơn 999,9 tại Công ty Phú Quý tăng 1,5 triệu đồng/lượng chiều mua vào và bán ra, giao dịch quanh mức 139 - 143 triệu đồng/lượng, tăng 1,5 triệu đồng/lượng chiều mua vào và bán ra. Chênh lệch mua – bán ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn Doji Hưng Thịnh Vượng 9999 của Tập đoàn Doji tại Hà Nội giao dịch ở mức 140,2 - 144,2 triệu đồng/lượng, tăng mạnh 1,7 triệu đồng/lượng chiều mua vào và bán ra. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 4 triệu đồng.
Giá nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu tăng 1,2 triệu đồng/lượng chiều mua vào và tăng 1,3 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 140,1 - 144 triệu đồng/lượng (mua – bán). Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 3,9 triệu đồng.
Cập nhật chi tiết giá vàng
| 1. PNJ - Cập nhật: 28/07/2026 08:46 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| TPHCM - PNJ | 136,200 ▼1400K | 141,200 ▼1400K |
| Hà Nội - PNJ | 136,200 ▼1400K | 141,200 ▼1400K |
| Đà Nẵng - PNJ | 136,200 ▼1400K | 141,200 ▼1400K |
| Miền Tây - PNJ | 136,200 ▼1400K | 141,200 ▼1400K |
| Tây Nguyên - PNJ | 136,200 ▼1400K | 141,200 ▼1400K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 136,200 ▼1400K | 141,200 ▼1400K |
| 1. AJC - Cập nhật: 28/07/2026 00:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Miếng SJC Hà Nội | 13,750 ▼150K | 14,150 ▼150K |
| Miếng SJC Nghệ An | 13,750 ▼150K | 14,150 ▼150K |
| Miếng SJC Thái Bình | 13,750 ▼150K | 14,150 ▼150K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 13,750 ▼150K | 14,150 ▼150K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 13,750 ▼150K | 14,150 ▼150K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 13,750 ▼150K | 14,150 ▼150K |
| NL 99.99 | 12,950 ▼50K | |
| Nhẫn Tròn Thái Bình | 12,850 ▼50K | |
| Trang sức 99.9 | 13,340 ▼150K | 14,040 ▼150K |
| Trang sức 99.99 | 13,350 ▼150K | 14,050 ▼150K |
| 1. SJC - Cập nhật: 22/07/2025 08:32 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ | 1,375 ▲1236K | 14,152 ▼150K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 1,375 ▲1236K | 14,153 ▼150K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 137 ▼1248K | 141 ▼1284K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 137 ▼1248K | 1,411 ▼15K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% | 134 ▼1221K | 139 ▼1266K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% | 130,624 ▼1485K | 137,624 ▼1485K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% | 9,461 ▼86275K | 10,441 ▼95095K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% | 84,879 ▲84020K | 94,679 ▲93722K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% | 75,148 ▼916K | 84,948 ▼916K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% | 71,395 ▲64168K | 81,195 ▲72988K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% | 48,319 ▼625K | 58,119 ▼625K |
| Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
| Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,375 ▲1236K | 1,415 ▲1272K |
Giá vàng thế giới hôm nay
Theo Kitco, tính đến 8h30 ngày 28/7 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay giảm xuống mức 4.044,4 USD/ounce, giảm 30,6 USD/ounce (tương đương 0,77%). Trong khi giá vàng giao tháng 8 gần như không đổi ở 4.074,7 USD. Việc chỉ số USD giảm 0,1% dù hỗ trợ sức mua từ các đồng tiền khác nhưng không đủ níu giữ đà tăng của kim loại quý.
![]() |
| Giá vàng thế giới hôm nay Nguồn: kito.com |
Nguyên nhân cốt lõi đến từ sự hạ nhiệt của thị trường năng lượng. Giá dầu Brent lao dốc hơn 8% xuống mức thấp nhất một tuần, giảm từ trên 100 USD/thùng xuống khoảng 90 USD/thùng sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump xác nhận các cuộc đàm phán tích cực với Iran. Việc hai bên tạm dừng giao tranh sau hai tuần căng thẳng đã mở ra kỳ vọng giải tỏa điểm nóng eo biển Hormuz. Giá năng lượng xoa dịu lo ngại lạm phát, từ đó làm giảm kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao — môi trường vốn bất lợi cho tài sản không sinh lãi như vàng.
Giới đầu tư hiện đổ dồn sự chú ý vào quyết định lãi suất của Fed vào thứ Tư và chỉ số lạm phát PCE tháng 6 vào thứ Năm. Thị trường đặt cược 62% khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tuần này, nhưng vẫn có tới 82% kịch bản sẽ tăng vào tháng 9. Ở chiều ngược lại, cầu vàng châu Á cho thấy tín hiệu trái chiều: nhập khẩu ròng của Trung Quốc qua Hong Kong tháng 6 dù tăng gấp đôi so với cùng kỳ, nhưng đã giảm hơn 5% so với tháng trước.