![]() |
| Giá thép hôm nay 11/6/2026: Bật tăng mạnh mẽ nhờ cú hích xuất khẩu |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h30 ngày 11/6/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 10.100 - 15.460 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.250 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.430 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.430 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.250 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.230 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 15.350 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.460 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.360 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.330 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.430 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 10.100 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.220 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.330 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 10.100 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h30 (giờ Việt Nam) ngày 11/6, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.145 CNY/tấn. |
Thị trường thép và nguyên liệu thô toàn cầu vừa chính thức ngắt mạch giảm 5 phiên liên tiếp bằng một phiên phục hồi đồng loạt. Động lực giúp thị trường đảo chiều mạnh mẽ xuất phát từ các số liệu xuất nhập khẩu tích cực hơn kỳ vọng của Trung Quốc.
Tại sàn giao dịch Thượng Hải (SHFE), kết thúc phiên ngày 10/6, hợp đồng thép thanh tương lai giao tháng 7/2026 nhích nhẹ 0,28%, tương đương tăng 9 nhân dân tệ, đạt mức 3.182 nhân dân tệ/tấn. Sắc xanh cũng lan tỏa rộng khắp các mặt hàng khác trên sàn này khi thép thanh tăng 0,98%, thép cuộn cán nóng tăng 0,6% và thép dây tăng 0,54%, duy chỉ có thép không gỉ đi ngược dòng với mức giảm 0,76%.
Xu hướng tăng giá cũng chiếm thế thượng phong trên thị trường nguyên liệu sản xuất. Đối với quặng sắt, kỳ hạn tương lai trên sàn Đại Liên (DCE) tăng 0,58% lên 777,5 nhân dân tệ/tấn, riêng kỳ hạn tháng 9 bứt phá 1,51% lên mức 771,5 nhân dân tệ/tấn. Tại sàn Singapore (SGX), giá quặng sắt giao tháng 7 ghi nhận các mức tăng lần lượt là 0,77% và 1,82% trong ngày, dao động quanh ngưỡng 101,45 - 102,45 USD/tấn. Trong khi đó, nhóm mặt hàng than có sự phân hóa nhẹ khi giá than cốc tăng 0,79% còn than luyện cốc giảm 0,76%.
Đà hồi phục của giá thép trong ngắn hạn đang nhận được bệ đỡ vững chắc từ hoạt động xuất khẩu sôi động của Trung Quốc, giúp khỏa lấp phần nào sự ảm đạm từ lực cầu nội địa. Số liệu từ Tổng cục Hải quan nước này cho thấy, lượng thép xuất khẩu tháng 5 đã tăng 8,8% so với tháng trước, cán mốc 10,34 triệu tấn và thiết lập mức cao nhất tính từ cuối năm ngoái nhờ biên lợi nhuận xuất khẩu chuyển biến tích cực.
Ngược lại, nguồn cung quặng sắt nhập khẩu vào quốc gia này trong tháng 5 lại sụt giảm gần 6% so với tháng 4, chỉ đạt 97,71 triệu tấn, thấp hơn nhiều so với dự báo trước đó của các chuyên gia là từ 104 đến 110 triệu tấn. Sự sụt giảm của nguồn cung nhập khẩu vô hình trung đã tạo ra áp lực thắt chặt, đẩy giá quặng sắt đi lên.
Thêm vào đó, áp lực chi phí sản xuất tại Trung Quốc cũng đang gia tăng khi chỉ số giá nhà sản xuất (PPI) tháng 5 tăng tới 3,9% so với cùng kỳ, đánh dấu tháng tăng thứ ba liên tiếp và đạt đỉnh kể từ giữa năm 2022. Chi phí đầu vào leo thang kết hợp cùng làn sóng xuất khẩu đạt đỉnh được kỳ vọng sẽ tiếp tục là động lực chính hỗ trợ giá thép thế giới duy trì đà hồi phục thời gian tới.