![]() |
| Giá thép hôm nay 11/4/2026: Nguồn cung dồi dào gây áp lực lên giá quặng |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 11/4/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.020 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.800 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.800 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.700 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.050 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.920 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.820 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.820 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 13.530 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.540 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 9h00 (giờ Việt Nam) ngày 11/4, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.079 CNY/tấn. |
Thị trường nguyên liệu thép thế giới đang chứng kiến sự phân hóa nhẹ nhưng xu hướng giảm vẫn đóng vai trò chủ đạo do áp lực dư cung. Tại sàn Thượng Hải, giá thép thanh kỳ hạn tháng 5/2026 đã điều chỉnh giảm 0,26% xuống mức 3.071 nhân dân tệ mỗi tấn trong phiên giao dịch gần nhất. Diễn biến tương tự cũng xuất hiện tại sàn Đại Liên khi quặng sắt giảm 0,45% về ngưỡng 775 nhân dân tệ mỗi tấn, mặc dù thị trường Singapore có sự hồi phục nhẹ nhưng không đáng kể.
Nguyên nhân chính khiến giá thép suy yếu bắt nguồn từ việc các tập đoàn khai thác lớn tại Australia và Brazil đồng loạt đẩy mạnh sản lượng xuất khẩu, đạt mức hơn 24 triệu tấn chỉ trong tuần đầu tháng 4. Chỉ số này tăng hơn 30% so với tuần trước đó, tạo ra áp lực dư thừa lớn lên giá thành. Bên cạnh đó, bức tranh ngành thép tại châu Âu cũng không mấy khả quan khi lượng phế liệu nhập khẩu của Đức chạm mức thấp kỷ lục trong nhiều tháng, phản ánh rõ nét tình trạng sản xuất đình trệ tại khu vực này.
Triển vọng phục hồi của giá thép trong ngắn hạn hiện vẫn gặp nhiều rào cản do các yếu tố vĩ mô chưa có dấu hiệu cải thiện rõ rệt. Nhu cầu thép từ Trung Quốc vốn là động lực chính của thị trường đang suy giảm mạnh bởi những khó khăn chưa được tháo gỡ trong lĩnh vực bất động sản. Điều này khiến biên lợi nhuận của các nhà máy bị thu hẹp đáng kể, buộc họ phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất để thích ứng với tình hình mới.
Mặc dù sản lượng gang lỏng có dấu hiệu tăng nhưng tốc độ đang chậm lại đáng kể, cho thấy các doanh nghiệp đang thận trọng hơn trong việc nhập hàng. Tại thị trường châu Âu, sự sụt giảm nguồn cung đầu vào từ các đối tác truyền thống của Đức cho thấy hoạt động công nghiệp vẫn đang ở trạng thái cầm chừng. Với việc tồn kho quặng sắt tại các cảng vẫn duy trì ở mức cao, giá thép được dự báo sẽ tiếp tục dao động quanh vùng đáy cũ trước khi tìm thấy điểm cân bằng mới.