Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2026 tăng 0,68% so với quý trước và tăng 2,95% so với cùng kỳ năm 2025.
Ở khu vực khai khoáng, giá sản xuất giảm nhẹ 0,05% so với quý trước và giảm 3,59% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu đến từ xu hướng giảm của thị trường năng lượng toàn cầu. Trong đó, giá dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 7,29% so với cùng kỳ năm trước, do tình trạng dư cung khi sản lượng khai thác gia tăng từ các quốc gia lớn, trong khi nhu cầu tiêu thụ năng lượng hóa thạch có dấu hiệu bão hòa. Dù vậy, giá năng lượng trong quý vẫn biến động do tác động của yếu tố địa chính trị.
Tương tự, giá than cứng và than non giảm 2,84% do nguồn cung trong nước và nhập khẩu dồi dào, trong bối cảnh giá than thế giới đi xuống.
Ngược lại, một số sản phẩm khai khoáng ghi nhận mức tăng đáng kể. Giá quặng kim loại và tinh quặng kim loại tăng mạnh 17,91% do nhu cầu từ các lĩnh vực chiến lược như năng lượng tái tạo, công nghệ và hạ tầng gia tăng, trong khi nguồn cung toàn cầu bị thắt chặt. Bên cạnh đó, nhóm khai khoáng khác tăng 7,86%, chủ yếu do nhu cầu vật liệu xây dựng tăng, trong khi nguồn cung bị siết chặt bởi các quy định môi trường.
![]() |
Chỉ số giá sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2026 tăng 0,69% so với quý trước và tăng 3,13% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh rõ tác động của chi phí nguyên liệu, nhân công và logistics.
Một số nhóm ngành ghi nhận mức tăng đáng chú ý:
Ở chiều ngược lại, giá than cốc và sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 6,27%, bám sát xu hướng giảm của giá dầu thô trên thị trường quốc tế.
Nhóm sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,97% so với quý trước và tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do điều chỉnh giá bán điện cùng với nhu cầu tiêu thụ năng lượng gia tăng, trong khi chi phí nhiên liệu và vận hành vẫn ở mức cao.
Đối với lĩnh vực nước sạch và xử lý rác thải, chỉ số giá tăng 2,01% so với quý trước và tăng 2,73% so với cùng kỳ. Áp lực chi phí đầu vào, đặc biệt là nhân công và vận hành, cùng với việc điều chỉnh giá dịch vụ tại một số địa phương là yếu tố chính thúc đẩy mặt bằng giá.
![]() |
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý I/2026 tăng 2,08% so với quý trước và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm vận tải và kho bãi đóng vai trò dẫn dắt với mức tăng lần lượt 5,75% và 8,77%.
Cụ thể, giá dịch vụ vận tải đường bộ và đường sắt tăng 2,92% so với cùng kỳ, trong đó vận tải xe buýt tăng nhẹ do điều chỉnh giá vé nhằm bù đắp chi phí, còn vận tải đường bộ khác tăng do giá nhiên liệu duy trì ở mức cao và nhu cầu vận chuyển tăng mạnh dịp Tết Nguyên đán. Ngược lại, vận tải đường sắt giảm 8,01% nhờ các chương trình kích cầu, giảm giá.
Vận tải đường thủy tăng 4,34%, trong đó vận tải ven biển và viễn dương tăng 5,11% do chi phí vận hành tăng và nhu cầu vận chuyển hàng hóa nội địa cải thiện.
Đáng chú ý, giá dịch vụ vận tải hàng không tăng đột biến 69,85% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu đi lại, du lịch tăng cao trong các dịp lễ, Tết, cùng với áp lực chi phí nhiên liệu bay.
Trong khi đó, giá dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 2,72%, dịch vụ bưu chính và chuyển phát tăng 1,99%.