![]() |
| Ảnh minh họa: EVN. |
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa công bố văn bản làm rõ một số thông tin liên quan đến Báo cáo tài chính năm 2025 của Công ty mẹ EVN và Báo cáo tài chính hợp nhất toàn tập đoàn.
Theo Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 đã được kiểm toán, EVN ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 645.658 tỷ đồng, tăng hơn 11% so với năm 2024. Giá vốn hàng bán và dịch vụ trong năm ở mức 549.307 tỷ đồng.
Kết quả, lợi nhuận sau thuế hợp nhất của tập đoàn đạt gần 51.882 tỷ đồng, tăng mạnh gần 530% so với mức gần 8.238 tỷ đồng của năm trước.
Đây cũng là mức lợi nhuận cao nhất EVN ghi nhận trong nhiều năm trở lại đây, qua đó giúp tập đoàn xóa hết khoản lỗ lũy kế trên báo cáo tài chính hợp nhất sau giai đoạn khó khăn kéo dài từ năm 2022 đến năm 2024.
Ngay trong đêm 7/6, EVN đã có văn bản giải thích một số nội dung liên quan đến các chỉ tiêu tài chính được công bố.
Theo Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ EVN năm 2025 đã được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của Công ty mẹ - EVN năm 2025 đạt 39.762 tỷ đồng, số lỗ lũy kế đến hết năm 2025 của Công ty mẹ EVN giảm về còn 5.611 tỷ đồng.
Vấn đề này EVN cũng đã có văn bản số 2697 ngày 14/5/2026 báo cáo Bộ Công Thương thông tin về số lỗ lũy kế đến hết năm 2025 của Công ty mẹ - EVN như trên.
![]() |
| Nguồn: Báo cáo tài chính riêng lẻ EVN. |
Trong khi đó, theo Báo cáo tài chính hợp nhất của EVN, chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế hợp nhất toàn Tập đoàn là 51.881 tỷ đồng, trong đó phần thuộc Công ty mẹ là 50.511 tỷ đồng.
EVN cho biết đây là số liệu được hợp nhất từ công ty mẹ, các công ty con và công ty liên kết theo tỷ lệ sở hữu của tập đoàn, do đó có sự khác biệt so với kết quả thể hiện trên báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ.
Chỉ tiêu này bao gồm lợi nhuận của Công ty mẹ - EVN và lợi nhuận thuộc Công ty mẹ - EVN tại các công ty con (các công ty TNHH MTV và các công ty cổ phần mà EVN nắm quyền kiểm soát) tương ứng với tỷ lệ sở hữu của EVN tại các công ty con này, công ty liên kết.
Do đó số liệu này khác với số liệu trình bày tại Báo cáo tài chính riêng của Công ty mẹ - EVN.
Ngoài ra, EVN cũng lưu ý rằng chỉ tiêu "lợi nhuận sau thuế thuộc về công ty mẹ" tại Báo cáo tài chính hợp nhất chưa xét tới việc trích lập các quỹ ở các Công ty con, phương án phân phối/giữ lại lợi nhuận theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
Theo EVN, để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần ưu tiên sử dụng số liệu tại báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ đã được kiểm toán nhằm bảo đảm tính nhất quán với các số liệu công bố trong các năm trước.
Ngoài vấn đề lợi nhuận, khoản tiền gửi ngân hàng quy mô lớn của EVN cũng nhận được nhiều sự chú ý. Theo báo cáo tài chính hợp nhất, tổng tiền và các khoản tương đương tiền cùng đầu tư tài chính ngắn hạn của toàn tập đoàn tính đến cuối năm 2025 đạt khoảng 152.000 tỷ đồng.
Giải thích về con số này, EVN cho biết đây là lượng tiền được tổng hợp từ nhiều đơn vị thành viên trong toàn hệ thống, bao gồm các đơn vị phát điện, truyền tải, phân phối và các doanh nghiệp dịch vụ phụ trợ.
Theo tập đoàn, nếu đặt trong tương quan với quy mô nghĩa vụ tài chính hiện tại, lượng tiền gửi nói trên vẫn chưa đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản thanh toán ngắn hạn. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ ngắn hạn của toàn hệ thống ở mức hơn 227.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, EVN cho biết tập đoàn còn phải chuẩn bị nguồn vốn lớn để thanh toán tiền mua nhiên liệu như than, dầu, khí; chi trả tiền mua điện từ các nhà máy ngoài hệ thống với tổng giá trị hơn 118.000 tỷ đồng, đồng thời đáp ứng các khoản vay đến hạn.
Theo giải thích của doanh nghiệp, việc duy trì quy mô tiền gửi lớn xuất phát từ đặc thù vận hành của ngành điện, khi các đơn vị phát điện cần duy trì dòng tiền thường xuyên để mở thư tín dụng phục vụ nhập khẩu nhiên liệu và thanh toán các hợp đồng cung ứng.
Trong khi đó, công ty mẹ EVN cũng phải duy trì khả năng thanh toán cho các nhà đầu tư điện ngoài hệ thống nhằm bảo đảm nguồn cung không bị gián đoạn. Trong bối cảnh thị trường nhiên liệu vẫn tiềm ẩn biến động, việc dự phòng nguồn vốn được xem là yêu cầu cần thiết để bảo đảm an ninh năng lượng và tính ổn định của hệ thống điện.
![]() |
| Các khoản tiền nhàn rỗi của EVN gồm tiền, tương đương tiền và tiền gửi có kỳ hạn. Nguồn: BCTC kiểm toán hợp nhất 2025. |
Ngoài nhu cầu vận hành thường xuyên, EVN cho biết tập đoàn đang triển khai nhiều dự án nguồn điện và lưới điện quy mô lớn trong thời gian tới. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chuẩn bị nguồn vốn đối ứng cũng như dự phòng thanh khoản trong trường hợp việc giải ngân các khoản vay hoặc nguồn vốn bên ngoài diễn ra chậm hơn kế hoạch.
EVN cũng cho biết hệ thống vẫn đang duy trì dư nợ vay lớn, trong đó riêng các khoản vay ngắn hạn khoảng 47.000 tỷ đồng, khiến việc bảo đảm khả năng thanh toán và duy trì uy tín tín dụng trở thành yêu cầu quan trọng đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp.