![]() |
| Dự báo giá vàng 6/7: Giá vàng nhẫn, vàng miếng đồng loạt tăng cao |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 17h ngày 5/7/2026, giá vàng tại sàn giao dịch của một số công ty kinh doanh vàng trong nước như sau:
Giá vàng trong nước chiều 5/7 tiếp tục duy trì mặt bằng cao khi các doanh nghiệp lớn đồng loạt giữ nguyên giá vàng miếng và vàng nhẫn sau nhịp tăng mạnh đầu tháng. Vàng miếng SJC, DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải được niêm yết ở mức 148,4 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 151,4 triệu đồng/lượng chiều bán ra, không thay đổi so với phiên trước.
So với đầu tháng 7, mỗi lượng vàng đã tăng khoảng 5 triệu đồng, giúp nhiều nhà đầu tư mua sớm ghi nhận mức lãi từ 1,1-3,2 triệu đồng/lượng tùy thương hiệu và thời điểm giao dịch. Trong đó, Mi Hồng là đơn vị có mức giá mua vào cao nhất, giúp người mua từ ngày 1/7 tạm lãi khoảng 3,2 triệu đồng/lượng, trong khi SJC, DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải đều ghi nhận mức lãi khoảng 2 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu và Phú Quý lần lượt mang lại mức lãi khoảng 1,1-1,6 triệu đồng/lượng.
Ở phân khúc vàng nhẫn, mặt bằng giá cũng duy trì ổn định quanh 148,3-151,4 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn SJC giao dịch ở mức 148,3-151,3 triệu đồng/lượng; DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải cùng niêm yết 148,4-151,4 triệu đồng/lượng; Bảo Tín Minh Châu ở mức 147,5-151 triệu đồng/lượng.
Việc giá vàng duy trì trên mốc 151 triệu đồng/lượng cho thấy thị trường vẫn giữ xu hướng tích cực sau đợt tăng mạnh đầu tháng, dù nhà đầu tư đang thận trọng chờ thêm tín hiệu từ thị trường quốc tế và chính sách tiền tệ của Mỹ.
| 1. PNJ - Cập nhật: 04/07/2026 10:38 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| TPHCM - PNJ | 148,400 | 151,400 |
| Hà Nội - PNJ | 148,400 | 151,400 |
| Đà Nẵng - PNJ | 148,400 | 151,400 |
| Miền Tây - PNJ | 148,400 | 151,400 |
| Tây Nguyên - PNJ | 148,400 | 151,400 |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 148,400 | 151,400 |
| 2. AJC - Cập nhật: 05/07/2026 00:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Miếng SJC Hà Nội | 14,840 | 15,140 |
| Miếng SJC Nghệ An | 14,840 | 15,140 |
| Miếng SJC Thái Bình | 14,840 | 15,140 |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 14,790 | 15,140 |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 14,790 | 15,140 |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 14,790 | 15,140 |
| NL 99.90 | 13,050 | |
| NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình | 13,100 | |
| Trang sức 99.9 | 14,330 | 15,030 |
| Trang sức 99.99 | 14,340 | 15,040 |
| 3. SJC - Cập nhật: 22/07/2025 08:32 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ | 1,484 | 15,142 |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 1,484 | 15,143 |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 1,483 | 1,513 |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 1,483 | 1,514 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% | 1,463 | 1,498 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% | 141,317 | 148,317 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% | 103,011 | 112,511 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% | 92,524 | 102,024 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% | 82,037 | 91,537 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% | 77,992 | 87,492 |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% | 53,123 | 62,623 |
| Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
| Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,484 | 1,514 |
Giá vàng thế giới chốt phiên chiều 5/7 tiếp tục duy trì đà tăng mạnh, với giá giao ngay đạt 4.174,1 USD/ounce, tăng 52,2 USD/ounce so với phiên trước. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, mỗi lượng vàng thế giới tương đương khoảng 133,4 triệu đồng, thấp hơn giá vàng miếng SJC trong nước khoảng 18 triệu đồng/lượng. Đây cũng là tuần tăng đầu tiên của vàng sau bốn tuần giảm liên tiếp, khi kim loại quý được hỗ trợ bởi kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ bớt cứng rắn hơn trong chính sách tiền tệ.
Động lực chính đến từ báo cáo việc làm tháng 6 của Mỹ, cho thấy nền kinh tế chỉ tạo thêm 57.000 việc làm phi nông nghiệp, thấp hơn nhiều so với dự báo khoảng 110.000 việc làm, làm gia tăng kỳ vọng Fed sẽ trì hoãn việc tăng lãi suất. Theo công cụ CME FedWatch, khả năng Fed nâng lãi suất trong cuộc họp tháng 9 đã giảm xuống còn khoảng 54%, trong khi đồng USD cũng ghi nhận tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 4, qua đó tạo thêm lực đẩy cho giá vàng. Bên cạnh yếu tố chính sách tiền tệ, nhu cầu mua vàng của các ngân hàng trung ương vẫn là điểm tựa quan trọng.
Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho biết các ngân hàng trung ương đã mua ròng 41 tấn vàng trong tháng 5 để bổ sung dự trữ. Trên thị trường kim loại quý, giá bạc tăng lên 62,19 USD/ounce, bạch kim đạt 1.653,3 USD/ounce và palladium lên 1.278,36 USD/ounce, phản ánh tâm lý tích cực của giới đầu tư.
Dự báo giá vàng ngày 2/7/2025 dự kiến giá vàng thế giới và giá vàng trong nước có xu hướng giảm. |
Dự báo giá vàng ngày 3/7/2025 dự kiến giá vàng thế giới và giá vàng trong nước có xu hướng tăng. |
Dự báo giá vàng ngày 4/7/2025 dự kiến giá vàng thế giới và giá vàng trong nước có xu hướng tăng. |