Thứ bảy 26/09/2026 18:32
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Doanh nghiệp cần biết: Những dự án không được thực hiện tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia

05/04/2021 06:03
Khoáng sản tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP.

Bảo vệ nghiêm ngặt khoáng sản tại khu vực dự trữ quốc gia

Ngày 01/4/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2021/NĐ-CP về quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP
Khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP. (Ảnh: minh họa H.Võ)

Nghị định quy định việc khoanh định, phê duyệt, điều chỉnh khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia; thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia; quản lý, bảo vệ khoáng sản và thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội (sau đây gọi chung là dự án đầu tư) tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia. Áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Cụ thể, Điều 7 của Nghị định quy định khoáng sản tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP.

Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư tại các khu vực đã khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, chủ đầu tư dự án có trách nhiệm: (1) Bảo vệ khoáng sản trong phạm vi khu vực triển khai dự án theo quy định; (2) Nghiêm cấm lợi dụng việc thực hiện dự án đầu tư, xây dựng công trình để khai thác khoáng sản nằm trong khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Trường hợp vi phạm quy định tại (2) nêu trên, ngoài việc bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và khối lượng khoáng sản bị khai thác trái phép, chủ đầu tư dự án còn bị đình chỉ có thời hạn việc thực hiện dự án đầu tư hoặc bị thu hồi quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan.

Khoản 1 Điều 8 Nghị định 51/2021/NĐ-C nêu rõ không thực hiện các dự án đầu tư sau đây tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia: Các dự án đầu tư có mục đích sử dụng đất lâu dài, trừ các công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng;

Các công trình xây dựng thuộc cấp công trình đặc biệt, cấp I theo quy định pháp luật về xây dựng, trừ dự án quan trọng quốc gia thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tổ chức, cá nhân khi lập hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải có đánh giá tác động, mức độ ảnh hưởng đến tài nguyên, trữ lượng, chất lượng khoáng sản đã được khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia thuộc phạm vi dự án; phải có giải pháp bảo vệ loại khoáng sản thuộc đối tượng dự trữ nêu trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chấp thuận chủ trương đầu tư dự án.

Về bồi thường thiệt hại khi thu hồi dự án đầu tư, Nghị định nêu rõ, trường hợp Thủ tướng Chính phủ giảm diện tích khu vực dự trữ, giảm thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh hoặc dự án quan trọng quốc gia mà ảnh hưởng trực tiếp đến dự án đầu tư thì chủ đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật khác có liên quan.

Nhà nước không chịu trách nhiệm đền bù cho chủ đầu tư dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia khi đã hết thời gian dự trữ khoáng sản theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia tối đa là 50 năm theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp đặc biệt, đối với một số khu vực, một số loại khoáng sản đặc thù, thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia có thể lớn hơn 50 năm nhưng không quá 70 năm, do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Bên cạnh đó, việc điều chỉnh khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia đã phê duyệt được thực hiện một trong các trường hợp sau đây: Bổ sung vào danh mục khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia khi có phát hiện mới về khoáng sản đáp ứng quy định;

Đưa ra khỏi danh mục một phần hay toàn bộ khu vực khoáng sản đã khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia trong trường hợp để bổ sung vào quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản có liên quan theo quy định hoặc để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh.

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

Nghị định số 67/2019/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

UBND cấp tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản
UBND cấp tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản. (Ảnh: minh họa)

Theo Nghị định này, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (R) được quy định bằng tỷ lệ (%) giá trị quặng nguyên khai của khu vực khoáng sản được phép khai thác. Đối với từng nhóm, loại khoáng sản được quy định cụ thể tại bảng sau:

Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường và than bùn: Cát, sỏi, sạn lòng sông, suối, bãi bồi; sét gạch ngói R(%)=5; Các loại vật liệu xây dựng thông thường còn lại (trừ nguyên liệu sản xuất cát nghiền) R(%)=3; Than bùn và Nguyên liệu sản xuất cát nghiền R(%)=1.

Nhóm khoáng sản nhiên liệu: Than các loại (trừ than bùn) R(%)=2.

Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng và khoáng chất công nghiệp: Đá khối làm ốp lát các loại; Đá hoa trắng, đá silic sản xuất bột siêu min; Đá vôi, đolomit dùng trong công nghiệp có R(%)=1.

Cát trắng, sét chịu lửa, caolin, diatomit; Sét nguyên liệu xi măng; Khoáng sản vật liệu xây dựng và khoáng chất công nghiệp còn lại có R(%)=2. Đá vôi nguyên liệu xi măng có R(%)=3.

Nhóm khoáng sản kim loại: Quặng gốc thiếc, wonfram, antimoan, niken; Vàng, bạc đi kèm khoáng sản khác có R(%)=1.

Sắt, mangan, titan; Sa khoáng thiếc, wonfram, cromit; Quặng gốc vàng, bạc; Các loại khoáng sản kim loại khác có R(%)=2. Đất hiếm có R(%)=2.

Nhóm khoáng sản đá quý, đá trang trí mỹ nghệ gồm Đá quý có R(%)=2 và Đá bán quý, đá trang trí mỹ nghệ có R(%)=1.

Nhóm khoáng sản nước nóng, nước khoáng và khí CO2 có R(%)=1.

Nghị định cũng nêu rõ căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được tính trên các căn cứ theo công thức sau: T = Q x G x K1 x K2 x R

Trong đó:

T- Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; đơn vị tính đồng Việt Nam;

Q - Trữ lượng tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đơn vị tính là m3, tấn; kg và các đơn vị khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trữ lượng khoáng sản;

G - Giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là trị giá đơn vị khoáng sản nguyên khai, sau khai thác, được xác định trên cơ sở giá tính thuế tài nguyên theo quy định của pháp luật về thuế tài nguyên tại thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; đơn vị tính là đồng/đơn vị trữ lượng;

K1 - Hệ số thu hồi khoáng sản liên quan đến phương pháp khai thác, được quy định: Khai thác lộ thiên K1= 0,9; khai thác hầm lò K1= 0,6; khai thác nước khoáng, nước nóng thiên nhiên và các trường hợp còn lại K1= 1,0;

K2 - Hệ số liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn áp dụng theo Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư do Chính phủ quy định về pháp luật đầu tư: Khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, K2= 0,9; khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng kinh tế- xã hội khó khăn, K2= 0,95; các khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng còn lại, K2= 1,0;

R - Mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; đơn vị tính là phần trăm (%).

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh là cơ quan tiếp nhận, kiểm tra, tổ chức tính, thẩm định và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản.

H. An

Tin bài khác
Hà Nội thí điểm “Sổ đỏ trao tay”, giảm khâu trung gian cho người dân

Hà Nội thí điểm “Sổ đỏ trao tay”, giảm khâu trung gian cho người dân

Đề án “Sổ đỏ trao tay” được Hà Nội thí điểm đến hết năm 2026, tập trung xử lý hai nhóm thủ tục về đính chính Giấy chứng nhận do sai sót của cơ quan nhà nước và chỉnh lý, cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất còn lại sau giải phóng mặt bằng.
TP. Hồ Chí Minh: cấp xã quyền quyết định giá nhà tái định cư

TP. Hồ Chí Minh: cấp xã quyền quyết định giá nhà tái định cư

UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành quyết định ủy quyền cho UBND xã, phường, đặc khu quyết định giá bán nhà ở phục vụ tái định cư do Nhà nước đầu tư xây dựng. Việc phân cấp nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở, đồng thời bảo đảm việc xác định giá bán đúng quy định pháp luật.
Sửa chữa hàng hóa: Doanh nghiệp chế xuất cần xác định đúng tính chất hoạt động

Sửa chữa hàng hóa: Doanh nghiệp chế xuất cần xác định đúng tính chất hoạt động

Bộ Tài chính cho rằng hoạt động sửa chữa hàng hóa của doanh nghiệp chế xuất phải được xem xét dựa trên nội dung, tính chất thực tế. Trường hợp sửa chữa là một công đoạn của hoạt động gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và thuộc phạm vi hoạt động chế xuất thì được áp dụng theo quy định; nếu là hoạt động sản xuất, kinh doanh khác, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện tương ứng.
13 nhóm dữ liệu cá nhân nhạy cảm phải được bảo vệ từ năm 2026

13 nhóm dữ liệu cá nhân nhạy cảm phải được bảo vệ từ năm 2026

Nghị định 356/2025/NĐ-CP xác định 13 nhóm dữ liệu cá nhân nhạy cảm, trong đó có thông tin sức khỏe, sinh trắc học, tài chính, tài khoản ngân hàng, vị trí và dữ liệu theo dõi hành vi trên không gian mạng.
Thông tư 124/2026/TT-BTC: C/O, ưu đãi thuế và quản trị chuỗi cung ứng doanh nghiệp

Thông tư 124/2026/TT-BTC: C/O, ưu đãi thuế và quản trị chuỗi cung ứng doanh nghiệp

Từ C/O đến dòng tiền, Thông tư 124/2026/TT-BTC cho thấy xuất xứ hàng hóa không còn là việc riêng của bộ phận logistics. Khi ưu đãi thuế phụ thuộc vào tính hợp lệ của chứng từ, doanh nghiệp phải quản trị C/O như một phần của chiến lược chuỗi cung ứng.
Thông tư 126/2026/TT-BTC: Quyền tiếp cận thông tin và dữ liệu số cho doanh nghiệp

Thông tư 126/2026/TT-BTC: Quyền tiếp cận thông tin và dữ liệu số cho doanh nghiệp

Thông tư 126/2026/TT-BTC không chỉ đặt ra chi phí tiếp cận thông tin, mà còn gợi mở cách doanh nghiệp chuyển từ bản photocopy sang dữ liệu số. Với SME, khả năng tìm đúng nguồn, yêu cầu đúng dữ liệu, lưu giữ chứng cứ trở thành lợi thế quản trị.
Thông tư 126/2026/TT-BTC: Khi nào được miễn chi phí cung cấp thông tin?

Thông tư 126/2026/TT-BTC: Khi nào được miễn chi phí cung cấp thông tin?

Thông tư 126/2026/TT-BTC làm rõ ranh giới giữa quyền tiếp cận thông tin và chi phí thực tế khi in, sao, chụp, gửi tài liệu. Với doanh nghiệp, điều quan trọng là biết khi nào được miễn chi phí, khi nào phải trả và cách ưu tiên dữ liệu số.
Thông tư 124/2026/TT-BTC: Quản lý rủi ro C/O hàng nhập khẩu, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 124/2026/TT-BTC: Quản lý rủi ro C/O hàng nhập khẩu, doanh nghiệp cần lưu ý gì?

Thông tư 124/2026/TT-BTC đưa kiểm tra C/O hàng nhập khẩu vào cơ chế quản lý rủi ro, khiến doanh nghiệp không thể chỉ nhìn vào một tờ chứng nhận xuất xứ. Hồ sơ đồng bộ, lịch sử tuân thủ và năng lực nhà cung cấp trở thành nền tảng mới.
Thông tư 124/2026/TT-BTC: Kiểm tra xuất xứ hàng nhập khẩu bước vào cơ chế quản lý rủi ro

Thông tư 124/2026/TT-BTC: Kiểm tra xuất xứ hàng nhập khẩu bước vào cơ chế quản lý rủi ro

Thông tư 124/2026/TT-BTC chỉ bổ sung một dòng về kiểm tra chứng từ xuất xứ, nhưng lại thay đổi cách nhìn rủi ro C/O. Khi hải quan áp dụng quản lý rủi ro, lịch sử tuân thủ, chất lượng hồ sơ và tin cậy dữ liệu trở thành lợi thế.
Thông tư 126/2026/TT-BTC: Chi phí in, sao chụp thông tin từ 1/9/2026

Thông tư 126/2026/TT-BTC: Chi phí in, sao chụp thông tin từ 1/9/2026

Thông tư 126/2026/TT-BTC không chỉ định mức chi phí in, sao, chụp thông tin mà phản ánh bước chuyển sang tiếp cận dữ liệu số. Với doanh nghiệp, giá trị không nằm ở vài nghìn đồng mỗi trang, mà ở khả năng khai thác thông tin để ra quyết định.
Nhà ở hình thành trong tương lai được xác nhận trong tối đa 15 ngày

Nhà ở hình thành trong tương lai được xác nhận trong tối đa 15 ngày

Quy định mới của Bộ Xây dựng rút rõ mốc thời gian xử lý thủ tục xác nhận nhà ở hình thành trong tương lai đủ điều kiện đưa vào kinh doanh, đồng thời tăng yêu cầu về hồ sơ và trách nhiệm của chủ đầu tư.
Sửa Luật Điện lực: Siết cơ chế đặc thù, ngăn phát sinh cơ chế xin – cho

Sửa Luật Điện lực: Siết cơ chế đặc thù, ngăn phát sinh cơ chế xin – cho

Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu dự án sửa đổi Luật Điện lực chỉ bổ sung những chính sách thực sự cần thiết, có đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn; đồng thời kiểm soát chặt quyền lực, không để phát sinh cơ chế xin – cho, lợi ích nhóm và chuyển rủi ro đầu tư, kinh doanh sang Nhà nước hoặc người sử dụng điện.
Cấp xã được phạt tới 50 triệu đồng trong lĩnh vực lao động

Cấp xã được phạt tới 50 triệu đồng trong lĩnh vực lao động

Nghị định số 283/2025/NĐ-CP phân định rõ thẩm quyền xử phạt giữa chính quyền cấp xã và cấp tỉnh trong các lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội.
Đề xuất cấm toàn diện thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

Đề xuất cấm toàn diện thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đề xuất bổ sung hàng loạt hành vi bị nghiêm cấm đối với thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, từ sản xuất, kinh doanh đến tàng trữ, vận chuyển và sử dụng.
Thông tư 121/2026/TT-BTC: Tạm ngừng, giải thể và cái giá của tư duy “công ty không hoạt động thì cứ để đó"

Thông tư 121/2026/TT-BTC: Tạm ngừng, giải thể và cái giá của tư duy “công ty không hoạt động thì cứ để đó"

Tạm ngừng hay giải thể không còn là việc “để công ty đó rồi tính”. Thông tư 121/2026/TT-BTC đặt lại yêu cầu về thông báo, trách nhiệm kê khai và dữ liệu pháp lý, buộc doanh nghiệp phải quản trị chặt hơn toàn bộ quá trình rút lui hoặc tạm dừng hoạt động.