Thứ bảy 12/09/2026 16:42
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Pháp luật

Doanh nghiệp cần biết: Những dự án không được thực hiện tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia

05/04/2021 06:03
Khoáng sản tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP.

Bảo vệ nghiêm ngặt khoáng sản tại khu vực dự trữ quốc gia

Ngày 01/4/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2021/NĐ-CP về quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP
Khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP. (Ảnh: minh họa H.Võ)

Nghị định quy định việc khoanh định, phê duyệt, điều chỉnh khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia; thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia; quản lý, bảo vệ khoáng sản và thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội (sau đây gọi chung là dự án đầu tư) tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia. Áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Cụ thể, Điều 7 của Nghị định quy định khoáng sản tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Khoáng sản, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản và Nghị định 51/2021/NĐ-CP.

Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư tại các khu vực đã khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, chủ đầu tư dự án có trách nhiệm: (1) Bảo vệ khoáng sản trong phạm vi khu vực triển khai dự án theo quy định; (2) Nghiêm cấm lợi dụng việc thực hiện dự án đầu tư, xây dựng công trình để khai thác khoáng sản nằm trong khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

Trường hợp vi phạm quy định tại (2) nêu trên, ngoài việc bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và khối lượng khoáng sản bị khai thác trái phép, chủ đầu tư dự án còn bị đình chỉ có thời hạn việc thực hiện dự án đầu tư hoặc bị thu hồi quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan.

Khoản 1 Điều 8 Nghị định 51/2021/NĐ-C nêu rõ không thực hiện các dự án đầu tư sau đây tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia: Các dự án đầu tư có mục đích sử dụng đất lâu dài, trừ các công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng;

Các công trình xây dựng thuộc cấp công trình đặc biệt, cấp I theo quy định pháp luật về xây dựng, trừ dự án quan trọng quốc gia thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tổ chức, cá nhân khi lập hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia phải có đánh giá tác động, mức độ ảnh hưởng đến tài nguyên, trữ lượng, chất lượng khoáng sản đã được khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia thuộc phạm vi dự án; phải có giải pháp bảo vệ loại khoáng sản thuộc đối tượng dự trữ nêu trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc báo cáo đề xuất chấp thuận chủ trương đầu tư dự án.

Về bồi thường thiệt hại khi thu hồi dự án đầu tư, Nghị định nêu rõ, trường hợp Thủ tướng Chính phủ giảm diện tích khu vực dự trữ, giảm thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh hoặc dự án quan trọng quốc gia mà ảnh hưởng trực tiếp đến dự án đầu tư thì chủ đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật khác có liên quan.

Nhà nước không chịu trách nhiệm đền bù cho chủ đầu tư dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia khi đã hết thời gian dự trữ khoáng sản theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia tối đa là 50 năm theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp đặc biệt, đối với một số khu vực, một số loại khoáng sản đặc thù, thời gian dự trữ khoáng sản quốc gia có thể lớn hơn 50 năm nhưng không quá 70 năm, do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Bên cạnh đó, việc điều chỉnh khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia đã phê duyệt được thực hiện một trong các trường hợp sau đây: Bổ sung vào danh mục khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia khi có phát hiện mới về khoáng sản đáp ứng quy định;

Đưa ra khỏi danh mục một phần hay toàn bộ khu vực khoáng sản đã khoanh định là khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia trong trường hợp để bổ sung vào quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản có liên quan theo quy định hoặc để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh.

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

Nghị định số 67/2019/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

UBND cấp tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản
UBND cấp tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản. (Ảnh: minh họa)

Theo Nghị định này, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (R) được quy định bằng tỷ lệ (%) giá trị quặng nguyên khai của khu vực khoáng sản được phép khai thác. Đối với từng nhóm, loại khoáng sản được quy định cụ thể tại bảng sau:

Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường và than bùn: Cát, sỏi, sạn lòng sông, suối, bãi bồi; sét gạch ngói R(%)=5; Các loại vật liệu xây dựng thông thường còn lại (trừ nguyên liệu sản xuất cát nghiền) R(%)=3; Than bùn và Nguyên liệu sản xuất cát nghiền R(%)=1.

Nhóm khoáng sản nhiên liệu: Than các loại (trừ than bùn) R(%)=2.

Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng và khoáng chất công nghiệp: Đá khối làm ốp lát các loại; Đá hoa trắng, đá silic sản xuất bột siêu min; Đá vôi, đolomit dùng trong công nghiệp có R(%)=1.

Cát trắng, sét chịu lửa, caolin, diatomit; Sét nguyên liệu xi măng; Khoáng sản vật liệu xây dựng và khoáng chất công nghiệp còn lại có R(%)=2. Đá vôi nguyên liệu xi măng có R(%)=3.

Nhóm khoáng sản kim loại: Quặng gốc thiếc, wonfram, antimoan, niken; Vàng, bạc đi kèm khoáng sản khác có R(%)=1.

Sắt, mangan, titan; Sa khoáng thiếc, wonfram, cromit; Quặng gốc vàng, bạc; Các loại khoáng sản kim loại khác có R(%)=2. Đất hiếm có R(%)=2.

Nhóm khoáng sản đá quý, đá trang trí mỹ nghệ gồm Đá quý có R(%)=2 và Đá bán quý, đá trang trí mỹ nghệ có R(%)=1.

Nhóm khoáng sản nước nóng, nước khoáng và khí CO2 có R(%)=1.

Nghị định cũng nêu rõ căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được tính trên các căn cứ theo công thức sau: T = Q x G x K1 x K2 x R

Trong đó:

T- Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; đơn vị tính đồng Việt Nam;

Q - Trữ lượng tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đơn vị tính là m3, tấn; kg và các đơn vị khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trữ lượng khoáng sản;

G - Giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là trị giá đơn vị khoáng sản nguyên khai, sau khai thác, được xác định trên cơ sở giá tính thuế tài nguyên theo quy định của pháp luật về thuế tài nguyên tại thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; đơn vị tính là đồng/đơn vị trữ lượng;

K1 - Hệ số thu hồi khoáng sản liên quan đến phương pháp khai thác, được quy định: Khai thác lộ thiên K1= 0,9; khai thác hầm lò K1= 0,6; khai thác nước khoáng, nước nóng thiên nhiên và các trường hợp còn lại K1= 1,0;

K2 - Hệ số liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn áp dụng theo Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư do Chính phủ quy định về pháp luật đầu tư: Khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, K2= 0,9; khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng kinh tế- xã hội khó khăn, K2= 0,95; các khu vực khai thác khoáng sản thuộc vùng còn lại, K2= 1,0;

R - Mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; đơn vị tính là phần trăm (%).

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh là cơ quan tiếp nhận, kiểm tra, tổ chức tính, thẩm định và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền cấp phép khai thác khoáng sản.

H. An

Tin bài khác
Bộ Công Thương sửa đổi 5 quy chuẩn an toàn đối với khí dầu hóa lỏng

Bộ Công Thương sửa đổi 5 quy chuẩn an toàn đối với khí dầu hóa lỏng

Thông tư số 46/2026/TT-BCT sửa đổi, bổ sung 5 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong lĩnh vực khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), trong đó đáng chú ý là các yêu cầu mới về kho chứa, chứng nhận hợp quy, kiểm định bồn chứa và giám sát chất lượng chai LPG.
Đề xuất xây dựng luật quản lý thiết bị bay không người lái từ năm 2027

Đề xuất xây dựng luật quản lý thiết bị bay không người lái từ năm 2027

Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét, thông qua 22 dự án luật, trong đó có dự án Luật về phát triển và quản lý thiết bị bay không người lái (UAV) – lĩnh vực đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý, khai thác và bảo đảm an toàn trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh.
Luật mới siết kinh doanh khí cười, mở rộng không gian kinh doanh có kiểm soát

Luật mới siết kinh doanh khí cười, mở rộng không gian kinh doanh có kiểm soát

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư vừa được công bố tạo ra hai chuyển động đáng chú ý: siết một hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng, đồng thời cắt giảm hàng loạt điều kiện kinh doanh để doanh nghiệp có thêm không gian hoạt động.
Tây Ninh: Người phát ngôn không được im lặng trước khủng hoảng thông tin

Tây Ninh: Người phát ngôn không được im lặng trước khủng hoảng thông tin

Lãnh đạo tỉnh Tây Ninh yêu cầu người phát ngôn chuyển từ thế bị động sang chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống để hạn chế khoảng trống thông tin và tin đồn trên không gian mạng.
Nghị định 337/2026/NĐ-CP: Doanh nghiệp biến quyền tiếp cận thông tin thành công cụ quản trị rủi ro

Nghị định 337/2026/NĐ-CP: Doanh nghiệp biến quyền tiếp cận thông tin thành công cụ quản trị rủi ro

Nghị định 337/2026/NĐ-CP quy định thủ tục tiếp cận thông tin, tạo cơ sở để doanh nghiệp đưa dữ liệu công vào quy trình thẩm định. Khi biết hỏi đúng, kiểm chứng và theo dõi thời hạn, doanh nghiệp có thêm công cụ giảm rủi ro trước giao dịch.
Đề xuất siết ngưỡng miễn thuế với hàng hóa giá trị nhỏ

Đề xuất siết ngưỡng miễn thuế với hàng hóa giá trị nhỏ

Bộ Tài chính đề xuất giảm mạnh ngưỡng miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa giá trị nhỏ, xuống còn 100.000 đồng cho mỗi lần xuất khẩu, nhập khẩu. Động thái này nhằm hạn chế tình trạng chia nhỏ đơn hàng để hưởng ưu đãi, đồng thời tạo mặt bằng cạnh tranh công bằng hơn giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước.
Nghị định 337/2026/NĐ-CP siết ranh giới minh bạch: Doanh nghiệp phải bảo vệ bí mật kinh doanh thế nào?

Nghị định 337/2026/NĐ-CP siết ranh giới minh bạch: Doanh nghiệp phải bảo vệ bí mật kinh doanh thế nào?

Nghị định 337/2026/NĐ-CP mở rộng tiếp cận thông tin nhưng đặt ranh giới rõ hơn với bí mật kinh doanh và dữ liệu cá nhân. Với doanh nghiệp, bài toán không chỉ là yêu cầu đúng thông tin, mà còn phải bảo vệ tài sản dữ liệu của chính mình.
Nghị định 337/2026/NĐ-CP mở đường dữ liệu công: Doanh nghiệp giảm rủi ro trước những quyết định đầu tư lớn

Nghị định 337/2026/NĐ-CP mở đường dữ liệu công: Doanh nghiệp giảm rủi ro trước những quyết định đầu tư lớn

Nghị định 337/2026/NĐ-CP Dữ liệu công trở thành phần của quản trị doanh nghiệp. Nghị định 337 đặt yêu cầu về danh mục thông tin, địa chỉ truy cập và trách nhiệm cung cấp. Với chủ doanh nghiệp, thói quen kiểm chứng nguồn chính thức trở thành “lá chắn” trước quyết định sai.
Dự trữ quốc gia được phép xuất cấp ngay bằng chỉ đạo qua điện thoại khi cấp bách

Dự trữ quốc gia được phép xuất cấp ngay bằng chỉ đạo qua điện thoại khi cấp bách

Theo Nghị định số 345/2026/NĐ-CP của Chính phủ, trong tình huống đột xuất, cấp bách, hàng dự trữ quốc gia có thể được xuất cấp ngay theo chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia, kể cả khi chưa kịp ban hành quyết định xuất cấp bằng văn bản. Chỉ đạo có thể được thực hiện trực tiếp qua điện thoại, Fax hoặc văn bản điện tử nhằm bảo đảm ứng phó kịp thời.
Doanh nghiệp cần rà soát gì trước khi Nghị định 283/2026 có hiệu lực

Doanh nghiệp cần rà soát gì trước khi Nghị định 283/2026 có hiệu lực

Nghị định 283/2026 đặt ra nhiều chế tài mới, trong đó doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý nghĩa vụ BHXH, hợp đồng, tiền lương và quản lý dữ liệu nhân sự.
Nghị định 343 đặt quy trình xử lý xung đột thông tin trên không gian mạng

Nghị định 343 đặt quy trình xử lý xung đột thông tin trên không gian mạng

Quy định mới phân định trách nhiệm giữa lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, các bộ, chủ quản hệ thống thông tin và doanh nghiệp viễn thông, Internet trong xử lý xung đột thông tin.
Lùi thời điểm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật mới đối với sữa dạng lỏng

Lùi thời điểm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật mới đối với sữa dạng lỏng

Bộ Công Thương quyết định tạm ngưng hiệu lực và lùi thời điểm áp dụng Thông tư số 09/2026/TT-BCT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia với sản phẩm sữa dạng lỏng đến ngày 1/12/2026, tạo thêm thời gian để rà soát, hoàn thiện các quy định trước khi triển khai.
Doanh nghiệp chế xuất phải đổi cách khai tờ khai từ ngày 9/9

Doanh nghiệp chế xuất phải đổi cách khai tờ khai từ ngày 9/9

Một thay đổi trong cách khai báo số quản lý nội bộ sẽ trở thành điều kiện để hệ thống tự động xác nhận tờ khai xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất từ ngày 9/9/2026. Việc chuẩn hóa này được kỳ vọng giảm thao tác thủ công và tạo thuận lợi hơn cho dòng hàng hóa.
Hà Nội thí điểm chế biến sâu đất hiếm từ nguồn quặng trong nước

Hà Nội thí điểm chế biến sâu đất hiếm từ nguồn quặng trong nước

UBND thành phố Hà Nội cho phép thử nghiệm có kiểm soát công nghệ sản xuất tổng oxit đất hiếm hàm lượng trên 95% từ quặng đất hiếm Việt Nam ở quy mô bán công nghiệp. Thời gian thử nghiệm 18 tháng, nhằm đánh giá khả năng vận hành, hoàn thiện công nghệ và làm cơ sở mở rộng lên quy mô công nghiệp.
Hàng hóa Việt Nam có thêm cửa vào thị trường giao dịch tập trung

Hàng hóa Việt Nam có thêm cửa vào thị trường giao dịch tập trung

Thị trường hàng hóa Việt Nam đang được đặt trước một yêu cầu mới, không chỉ mua bán thuận lợi mà còn phải có công cụ để hình thành giá, quản trị rủi ro và kết nối với thị trường quốc tế. Thông tư số 47/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương tạo thêm một bước tiến theo hướng đó khi đặt dữ liệu vào trung tâm quản lý và yêu cầu xây dựng lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong 5 năm.