Báo cáo tài chính quý III/2026 của Cơ Điện Lạnh REE cho thấy sự khác biệt giữa kết quả kinh doanh hợp nhất và báo cáo riêng của công ty mẹ. Trong khi lợi nhuận hợp nhất tiếp tục đi lên, lợi nhuận sau thuế trên báo cáo riêng lại giảm gần 50% so với cùng kỳ, chủ yếu do khoản cổ tức nhận được từ các đơn vị thành viên sụt giảm.
Cụ thể, trong quý III, doanh thu thuần hợp nhất của REE đạt 3.269,6 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 788 tỷ đồng, tăng 17%.
Ở chiều ngược lại, lợi nhuận sau thuế trên báo cáo riêng của công ty mẹ chỉ đạt 159,8 tỷ đồng, giảm 49,59%. Nguyên nhân chủ yếu đến từ khoản cổ tức nhận được từ các công ty thành viên giảm từ 244,1 tỷ đồng cùng kỳ năm trước xuống còn 36,97 tỷ đồng trong quý III/2026. REE cho biết thời điểm phân phối lợi nhuận của các đơn vị thành viên năm nay có sự khác biệt so với năm trước.
Sự khác biệt này cho thấy kết quả kinh doanh riêng lẻ của công ty mẹ chịu ảnh hưởng đáng kể từ thời điểm và chính sách phân phối lợi nhuận của các đơn vị thành viên. Do đó, cần đặt chỉ tiêu lợi nhuận riêng trong tương quan với kết quả hợp nhất để đánh giá đầy đủ hơn hoạt động của toàn doanh nghiệp.
![]() |
| Cơ Điện Lạnh REE tăng tốc đầu tư năng lượng, nợ phải trả tăng thêm 2.740 tỷ đồng |
Lũy kế 9 tháng đầu năm, REE ghi nhận doanh thu gần 8.200 tỷ đồng, tăng 14%; lợi nhuận ròng vượt 2.100 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ. Với kết quả này, doanh nghiệp đã thực hiện khoảng 67% kế hoạch doanh thu và 76% mục tiêu lợi nhuận cả năm.
Dù vậy, cơ cấu đóng góp vào lợi nhuận trong quý III cũng có một số điểm cần lưu ý. Doanh thu tài chính đạt 213 tỷ đồng, gấp đôi cùng kỳ. Trong đó, REE ghi nhận hơn 86 tỷ đồng lãi từ việc thoái toàn bộ vốn tại CTCP Thủy điện Sử Pán 2; khoản lãi từ bán, thanh lý các khoản đầu tư đạt 85,96 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước là 16,84 tỷ đồng.
Ở một số lĩnh vực khác, lợi nhuận từ công ty liên doanh, liên kết giảm từ 242,6 tỷ đồng xuống 219,7 tỷ đồng. Mảng hạ tầng nước cũng ghi nhận lợi nhuận giảm từ 91,6 tỷ đồng xuống 86,4 tỷ đồng.
Cùng với đó, chi phí hoạt động có xu hướng tăng. Chi phí quản lý doanh nghiệp hợp nhất trong quý III đạt 185,1 tỷ đồng, tăng 47,9%; chi phí bán hàng tăng từ 33,7 tỷ đồng lên 48 tỷ đồng. Chi phí lãi vay tăng từ 179 tỷ đồng lên 192,2 tỷ đồng. Trong khi đó, biên lợi nhuận gộp giảm từ 36,7% xuống 33,3%.
Nợ phải trả tăng cùng tiến độ mở rộng đầu tư
Một trong những điểm đáng chú ý trong báo cáo tài chính của REE là quy mô nợ phải trả gia tăng trong 9 tháng đầu năm.
Tại ngày 30/9/2026, tổng nợ phải trả của doanh nghiệp đạt 18.018,8 tỷ đồng, tăng khoảng 2.740 tỷ đồng so với đầu năm, tương ứng gần 18%. Tổng tài sản cùng thời điểm đạt 44.397,6 tỷ đồng.
Đáng chú ý, mức tăng của nợ phải trả không đồng nghĩa toàn bộ số tiền này là nợ vay ngân hàng. Một số khoản mục nợ và nghĩa vụ phải trả khác cũng tăng đáng kể. Cụ thể, chi phí phải trả tăng từ 705,9 tỷ đồng lên 1.113,1 tỷ đồng, trong đó giá vốn cung cấp thiết bị và lắp đặt chiếm 802,1 tỷ đồng. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước tăng từ 307,6 tỷ đồng lên 442 tỷ đồng. Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi ở mức 560,9 tỷ đồng.
Đối với các khoản vay có tính lãi, tổng dư nợ của REE vào khoảng 11.500 tỷ đồng, gồm hơn 10.000 tỷ đồng vay dài hạn và khoảng 1.300 tỷ đồng vay ngắn hạn. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ ròng trên vốn chủ sở hữu ở mức 16%, thấp hơn mức 17% ghi nhận hồi đầu năm.
Những con số này cho thấy cần phân biệt giữa mức tăng tổng nợ phải trả và áp lực nợ vay thực tế. Việc đánh giá sức khỏe tài chính của REE cũng cần đặt trong bối cảnh doanh nghiệp đang triển khai nhiều dự án năng lượng có quy mô vốn lớn, với nhu cầu đầu tư và giải ngân đáng kể.
Theo báo cáo, chi phí xây dựng cơ bản dở dang của REE đã tăng lên gần 4.900 tỷ đồng, cao gấp đôi đầu năm. Riêng các dự án điện gió ghi nhận giá trị dở dang 3.950,5 tỷ đồng, tăng 2.420 tỷ đồng so với đầu năm.
Trong số các dự án đang triển khai, Nhà máy điện gió Duyên Hải 2 và Duyên Hải 3 tại khu vực Vĩnh Long là những công trình đáng chú ý. Dự án Duyên Hải 3 có công suất 80 MW, đã hoàn tất thi công và đang trong giai đoạn chạy thử nghiệm, dự kiến vận hành thương mại trong tháng 11/2026. Dự án Duyên Hải 2 đang hoàn thiện lắp đặt, dự kiến vận hành trong tháng 12/2026.
Theo thông tin doanh nghiệp công bố, khi đi vào hoạt động, hai nhà máy có thể mang lại khoảng 696 tỷ đồng doanh thu mỗi năm.
Bên cạnh đó, REE đang triển khai cụm nhà máy điện gió Phú Cường tại Cần Thơ, với tổng vốn đầu tư hơn 9.000 tỷ đồng. Dự án dự kiến vận hành trong quý IV/2027 và có khả năng đóng góp hơn 1.100 tỷ đồng doanh thu mỗi năm.
Các dự án này được kỳ vọng mở rộng quy mô hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho REE trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, khả năng hiện thực hóa doanh thu và hiệu quả đầu tư còn phụ thuộc vào tiến độ hoàn thành, khả năng đấu nối, vận hành thương mại cũng như sản lượng điện được huy động.
Vì vậy, bên cạnh tốc độ giải ngân và quy mô đầu tư, tiến độ đưa các dự án vào khai thác sẽ là yếu tố quan trọng cần theo dõi. Khi các công trình chưa tạo ra dòng tiền tương ứng, chi phí vốn và nghĩa vụ tài chính vẫn là những vấn đề doanh nghiệp phải tính toán trong quá trình mở rộng hoạt động.
Cổ phiếu REE lùi xa vùng đỉnh
Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu REE đang giao dịch quanh vùng 45.500-45.800 đồng/cổ phiếu. Theo dữ liệu được cung cấp, mã này giảm khoảng 1,2% trong một tháng, mất 15,9% trong 6 tháng và thấp hơn 12,7% so với đầu năm 2026.
Đáng chú ý, cổ phiếu REE từng đạt mức khoảng 64.500 đồng/cổ phiếu vào cuối tháng 3/2026. So với vùng giá này, thị giá hiện tại đã giảm khoảng 29%.
Diễn biến cổ phiếu cho thấy thị trường đang có những điều chỉnh nhất định trong đánh giá triển vọng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào biến động giá để kết luận nguyên nhân, bởi thị giá còn chịu tác động từ nhiều yếu tố như diễn biến chung của thị trường, kỳ vọng lợi nhuận, triển vọng các dự án và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư.
Với REE, những vấn đề đáng theo dõi trong thời gian tới là khả năng duy trì tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động cốt lõi, kiểm soát chi phí tài chính và chuyển các khoản đầu tư đang xây dựng thành tài sản vận hành có khả năng tạo dòng tiền. Đây sẽ là những yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của chiến lược mở rộng đầu tư, cũng như sức khỏe tài chính của doanh nghiệp trong các kỳ tiếp theo.
