Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính, thí điểm áp dụng cho các năm 2025 và 2026.
Theo quyết định này, 110 cơ sở sản xuất sẽ được đưa vào diện thí điểm áp hạn ngạch phát thải, bao gồm 34 nhà máy nhiệt điện, 51 cơ sở sản xuất xi măng và 25 cơ sở sản xuất sắt thép. Tổng hạn ngạch phát thải được phân bổ cho các cơ sở này là hơn 243 triệu tấn CO₂ tương đương trong năm 2025 và gần 268,4 triệu tấn CO₂ tương đương trong năm 2026.
![]() |
| Chính thức áp hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025–2026 |
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng để tổ chức phân bổ cụ thể khối lượng hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho từng cơ sở thuộc diện thí điểm, bảo đảm phù hợp với đặc thù ngành, quy mô sản xuất và lộ trình giảm phát thải.
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính được hiểu là giới hạn tối đa lượng khí nhà kính mà một quốc gia, ngành hoặc cơ sở sản xuất được phép phát thải trong một khoảng thời gian xác định. Các cơ sở được cấp hạn ngạch có trách nhiệm triển khai các giải pháp giảm nhẹ phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và công nghệ nhằm bảo đảm mức phát thải thực tế không vượt quá hạn ngạch được giao.
Trường hợp phát thải vượt hạn ngạch, các cơ sở có thể phải chịu chế tài xử phạt hoặc buộc mua bổ sung hạn ngạch, tín chỉ carbon theo tỷ lệ nhất định để bù đắp phần vượt. Ngược lại, những cơ sở có mức phát thải thấp hơn hạn ngạch được phân bổ sẽ được phép chuyển nhượng, bán phần hạn ngạch dư thừa cho các đơn vị khác. Cơ chế này được xem là nền tảng quan trọng để hình thành và vận hành thị trường tín chỉ carbon bắt buộc tại Việt Nam trong thời gian tới.
Trước đó, tại buổi làm việc vào cuối năm 2025, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, việc thí điểm áp dụng hạn ngạch phát thải khí nhà kính không chỉ dừng lại ở việc xác định các con số tuyệt đối, mà còn là quá trình hoàn thiện đồng bộ các công cụ quản lý liên quan, bao gồm đo đạc, kiểm kê, thẩm định, báo cáo kết quả giảm phát thải, cũng như hoàn thiện khung pháp lý và các yêu cầu kỹ thuật.
Các phương pháp triển khai phải bảo đảm cơ sở khoa học, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, qua đó gắn chặt việc áp dụng hạn ngạch phát thải với lộ trình thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050.