Thứ tư 19/08/2026 18:42
Hotline: 024.355.63.010
Pháp luật

Các trường hợp chuyển nhượng cổ phần theo quy định pháp luật hiện hành

05/12/2023 09:33
Bạn đọc Khánh Toản (Hà Nội): Với số vốn muốn bỏ ra để mua cổ phần mà công ty chào bán, tôi có nhất thiết phải gắn bó lâu dài với công ty không? Đặc điểm giữa các loại cổ phần trong công ty, các trường hợp chuyển nhượng cổ phần?

Trả lời về nội dung này, Luật sư Vũ Kim Hoàn - Giám đốc Công ty Luật TNHH HQC, Đoàn Luật sư tỉnh Hà Nam chia sẻ như sau:

Luật sư  Vũ Kim Hoàn - Giám đốc Công ty Luật TNHH HQC - Đoàn Luật sư tỉnh Hà Nam.
Luật sư Vũ Kim Hoàn - Giám đốc Công ty Luật TNHH HQC - Đoàn Luật sư tỉnh Hà Nam.

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 thì công ty cổ phần có các loại cổ phần sau: Cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về chứng khoán. Giữa các loại cổ phần của công ty cổ phần có đặc điểm sau:

Cổ phần phổ thông

Cổ phần ưu đãi

Cổ phần ưu đãi biểu quyết

Cổ phần ưu đãi cổ tức

Cổ phần ưu đãi hoàn lại

Khái

niệm

Cổ phần phổ thông là loại cổ phần cơ bản, mặc định phải có đối với mọi công ty cổ phần. Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông nhưng không nhất thiết phải có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông.

Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần phổ thông có nhiều hơn phiếu biểu quyết so với cổ phần phổ thông khác (có tỷ lệ biểu quyết lớn hơn so với cỏ phần phổ thông); số phiếu biểu quyết (Tỷ lệ) của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định.

Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm.

Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại và Điều lệ công ty.

Tính

bắt buộc

Bắt buộc phải có

Không bắt buộc phải có

Cổ

tức

Không ổn định, tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty

Không ổn định, tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty

Được trả với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông/mức ổn định hằng năm

Không ổn định, tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty

Quyền

biểu

quyết

Thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty, pháp luật quy định

Biểu quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông với số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông khác

Không có quyền biểu quyết trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 148 của Luật Doanh nghiệp 2020

Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 114 và khoản 6 Điều 148 Luật Doanh nghiệp 2020

Khả

năng chuyển đổi

Không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi

Có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông (Sau thời hạn ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển đổi thành cổ phần phổ thông)

có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.

Có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.

Khả

năng chuyển nhượng

Tự do chuyển nhượng trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120, khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 và quy định khác của pháp luật có liên quan

Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc thừa kế.

Được quyền chuyển nhượng

Được quyền chuyển nhượng

Việc mua cổ phẩn mà công ty cổ phần chào bán, cổ đông không nhất thiết phải gắn bó lâu dài với công ty nếu họ không muốn. Tính tự do chuyển nhượng cổ phần đem lại cho công ty cổ phần lợi thế hơn hẳn so với các loại hình công ty khác. Đối với công ty cổ phần quyền chuyển nhượng cần phải hiểu ở đây bao gồm cả các quyền bán, tặng cho, thừa kế. Có nghĩa là chuyển nhượng Vốn trong công ty cổ phần không thể chỉ hiểu theo nghĩa hẹp là việc mua bán, trao đổi. Cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần mà mình nắm giữ trong trường hợp chuyển nhượng thông thường và trường hợp đặc biệt khi cổ đông là cá nhân chết hoặc cổ đông tặng cho cổ phần hay sử dụng cổ phần để trả nợ.

Cụ thể về các trường hợp chuyển nhượng cổ phần

Cổ phần về bản chất là quyền tài sản được thể hiện bằng cổ phiếu, cổ phần là phần chia nhỏ nhất của vốn điều lệ công ty. Cổ phần không bị hạn chế về thời gian, nó luôn tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty. Bên cạnh đó, do xuất phát từ quan niệm coi công ty cổ phần là mô hình tổ chức theo hình thức đối vốn, có tính chất đại chúng phản ánh cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng chuyển đổi dễ dàng mà không làm mất đi tính ổn định trong cấu trúc vốn, khác hẳn với mô hình tổ chức theo hình thức đối nhân nên việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần dễ dàng hơn so với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Vì vậy, một trong những ưu điểm nổi bật của công ty cổ phần là mặc dù cổ đông “Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần” (khoản 2 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2020) nhưng “được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 của Luật doanh nghiệp 2020 và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần” (khoản 1 Điều 127 Luật doanh nghiệp 2020). Đồng thời, với ưu điểm nổi bật nêu trên của công ty cổ phần cũng đem lại ý nghĩa quan trọng như sau:

Ÿ Về phương diện kinh tế: Tính dễ dàng chuyển nhượng cổ phần tạo ra sự năng động về nguồn vốn song vẫn giữ được sự ổn định trong công ty cổ phần.

Ÿ Về phương diện pháp lý: Khi một người đã góp vốn vào công ty, họ không có quyền rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần. Vì vậy, một thành viên công ty không muốn ở công ty thì chỉ có cách chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. Đối với công ty cổ phần, việc chuyển nhượng cổ phần rất dễ dàng và thuận tiện, điều đó tạo cho công ty cổ phần một cấu trúc vốn mở với việc cổ đông trong công ty cổ phần thường xuyên thay đổi.

Quy định về chuyển nhượng cổ phần phổ thông

Các cổ phần phổ thông có thể được coi là nền tảng cơ bản về vốn của công ty cổ phần, tổng giá trị loại cổ phần này chiếm tỷ lệ chủ yếu trong công ty. Những người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông – họ là hiện thân về lợi ích của công ty cổ phần trên thương trường. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, một cổ phần phổ thông sẽ có một phiếu biểu quyết, như vậy mọi cổ đông phổ thông đều có quyền tham gia biểu quyết, quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến hoạt động của công ty.

Một đặc trưng nữa của cổ phần phổ thông là quyền tự do chuyển nhượng của người sở hữu nó. Khi không còn nhu cầu đầu tư vào công ty, cổ đông phổ thông có thể chuyển quyền sở hữu của mình đối với công ty cho người khác thông qua việc chuyển quyền sở hữu các cổ phần. Các điều kiện về chào bán, chuyển nhượng loại cổ phần này có thể do Điều lệ công ty quy định hoặc không quy định.

Trường hợp chuyển nhượng thông thường công ty cổ phần có thể trực tiếp bán cổ phần của mình cho người mua. Người muốn mua cổ phần của công ty có thể mua trực tiếp khi công ty chào bán cổ phần hoặc nhận chuyển nhượng từ cổ đông khác. Như vậy, chuyển nhượng cổ phần thực chất là hoạt động mua bán cổ phần giữa cổ đông của công ty với người khác. Đây là một loại giao dịch dựa trên sự thỏa thuận giữa cổ đông là người muốn bán một phần hoặc toàn bộ cổ phần của mình và người muốn mua cổ phần để trở thành cổ đông của công ty

Quy định về chuyển nhượng cổ phần ưu đãi

Bên cạnh cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể quyết định việc phát hành thêm một số loại cổ phần ưu đãi. Bao gồm cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và một số cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty nếu có quy định. Giống với các cổ đông phổ thông, các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và có phần ưu đãi hoàn lại đều là những người đầu tư vào công ty bằng cách mua cổ phần trong công ty và hoàn toàn có quyền tự do chuyển nhượng các loại cổ phần này. Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản giữa các loại cổ phần này là: Các cổ đông phổ thông hoàn toàn có quyền biểu quyết thì ngược lại các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và ưu đãi hoàn lại không có quyền quan trọng đó. Đối với các loại cổ phần ưu đãi (trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết), việc chuyển nhượng chúng như thế nào hoàn toàn mang tính chất tùy nghi và do Điều lệ công ty quy định. Đương nhiên, nếu Điều lệ không cụ thể hóa vấn đề này các cổ đông sở hữu chúng sẽ tự do chuyển nhượng trên thị trường.

Theo đó cổ đông trong công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình trừ các trường hợp sau:

  • Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.

  • Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.

Quy định về chuyển nhượng cổ phần trong một số trường hợp khác

Một là, chuyển nhượng cổ phần trong trường hợp cổ đông là cá nhân chết quy định tại Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020

Căn cứ tại khoản 3 Điều 127 Luật doanh nghiệp năm 2020, trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó là cổ đông của công ty. Như vậy, việc chuyển nhượng cổ phần trong trường hợp này sẽ căn cứ vào di chúc của cổ đông đó. Với quyền tự cho chuyển nhượng của mình, cổ đông có thể di chúc lại việc chuyển nhượng một phần hay toàn bộ số cổ phần mà mình nắm giữ, cho một người hay nhiều người tùy thuộc vào ý chí của mình. Hoặc nếu không có di chúc thì cổ phần của cổ đông sẽ được điều chỉnh theo pháp luật về thừa kế. Việc quy định trường hợp này nhằm đảm bảo lợi ích của cổ đông, vì cổ phần là một loại tài sản hợp pháp nên sau khi cổ đông chết thì số tài sản này được chia thừa kế như những loại tài sản khác.

Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về trường hợp cổ đông là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần của cổ đông đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự. Đây là những trường hợp đặc biệt mà Luật Doanh nghiệp không quy định cụ thể. Theo pháp luật dân sự thì những trường hợp này giải quyết như sau: “Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước (Điều 622 Bộ luật Dân sự năm 2015). Đây là trường hợp hiếm xảy ra, nhưng khi xảy ra trên thực tế thì phần cổ phần của cổ đông đó thường được để lại cho công ty.

Hai là, trường hợp cổ đông tặng cho cổ phần hoặc sử dụng cổ phần để trả nợ

Căn cứ tại Khoản 5, Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “Cổ đông có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần của mình tại công ty cho cá nhân, tổ chức khác; sử dụng cổ phần để trả nợ. Cá nhân, tổ chức được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ trở thành cổ đông của công ty” ghi nhận quyền tặng cho cổ phần của cổ đông công ty cổ phần cho người khác.

Việc tặng cho một phần hay toàn bộ cổ phần tùy thuộc vào ý chí của cổ đông sở hữu cổ phần đó mà không cần thiết phải có sự thỏa thuận giữa bên tặng, cho và bên nhận. Còn việc dùng cổ phần để trả nợ thì buộc phải có sự thỏa thuận giữa hai bên Sử dụng cổ phần để trả nợ thực chất là việc chuyển quyền sở hữu số cổ phần mình nắm giữ cho chủ nợ, việc trả nợ đưa trên việc quy đổi giá trị của cổ phần theo giá thị trường hoặc theo thỏa thuận của hai bên hoặc dựa theo tổ chức thẩm định giá nếu các bên có yêu cầu.

Hoàng Long

Tin bài khác
Doanh nghiệp Hà Nội đối mặt nhiều điểm mới về thuế, hóa đơn

Doanh nghiệp Hà Nội đối mặt nhiều điểm mới về thuế, hóa đơn

Ngày 18/8, Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Sở Tài chính Hà Nội tổ chức Hội nghị đối thoại với chủ đề “Thuế GTGT và hóa đơn; điểm mới và tác động đến doanh nghiệp”.
Sàn dữ liệu mở cửa nhưng không dành cho mọi nguồn dữ liệu

Sàn dữ liệu mở cửa nhưng không dành cho mọi nguồn dữ liệu

Sàn dữ liệu đang được đặt nền móng cho một thị trường mới, nơi dữ liệu không chỉ được khai thác mà còn trở thành sản phẩm có thể giao dịch. Tuy nhiên, để tham gia thị trường này, doanh nghiệp phải chứng minh được dữ liệu có nguồn gốc hợp pháp, đủ điều kiện khai thác và đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, an toàn, bảo mật. Với doanh nghiệp nước ngoài, cánh cửa còn gắn với một điều kiện quan trọng: phải có hiện diện thương mại tại Việt Nam.
Doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý gì về thuế nhà thầu khi thuê vận tải quốc tế?

Doanh nghiệp xuất khẩu cần lưu ý gì về thuế nhà thầu khi thuê vận tải quốc tế?

Chi phí vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam sang nước ngoài không chỉ là câu chuyện của hợp đồng logistics. Với doanh nghiệp xuất khẩu, cách xác định bản chất dịch vụ và điều kiện thanh toán có thể quyết định nghĩa vụ thuế nhà thầu cũng như khả năng áp dụng thuế GTGT 0% đối với phí vận chuyển.
Codex đổi 304 điều khoản, doanh nghiệp thực phẩm phải rà soát gì?

Codex đổi 304 điều khoản, doanh nghiệp thực phẩm phải rà soát gì?

72 phụ gia và 304 điều khoản sử dụng được cập nhật trong GSFA 2026 không chỉ là thay đổi kỹ thuật của Codex. Với doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực phẩm, đây có thể là điểm phát sinh chi phí, chậm giao hàng hoặc vướng mắc khi tiếp cận thị trường nếu công thức và hồ sơ không được cập nhật kịp thời.
Cung cấp thông tin thuế sai có thể bị phạt tới 100 triệu đồng

Cung cấp thông tin thuế sai có thể bị phạt tới 100 triệu đồng

Không chỉ người nộp thuế, nhiều tổ chức và cá nhân đang nắm giữ thông tin tài chính, tài khoản, chủ sở hữu hưởng lợi cũng có thể phát sinh nghĩa vụ cung cấp dữ liệu cho ơ quan Thuế. Vi phạm có thể dẫn tới mức phạt 100 triệu đồng và vẫn phải tiếp tục cung cấp thông tin.
Doanh nghiệp cần làm gì để tránh rủi ro khi cung cấp thông tin thuế?

Doanh nghiệp cần làm gì để tránh rủi ro khi cung cấp thông tin thuế?

Cung cấp thiếu, sai hoặc chậm thông tin theo yêu cầu của Cơ quan Thuế có thể kéo theo rủi ro vi phạm hành chính. Cục Thuế đang yêu cầu toàn ngành tăng cường tuyên truyền để người nộp thuế chủ động thực hiện đúng nghĩa vụ trong bối cảnh quản lý thuế ngày càng dựa nhiều hơn vào dữ liệu.
Sáu "điểm nghẽn" trong quản lý vận hành chung cư cần được tháo gỡ

Sáu "điểm nghẽn" trong quản lý vận hành chung cư cần được tháo gỡ

Trong bối cảnh hoạt động quản lý, vận hành nhà chung cư ngày càng đặt ra nhiều yêu cầu mới, sự thiếu đồng bộ giữa các quy định về nhà ở, thuế, phòng cháy chữa cháy, môi trường và quản trị đô thị đang tạo ra không ít vướng mắc trong thực tiễn. Trước những vấn đề này, Hiệp hội Quản lý Vận hành Nhà chung cư TP.HCM (HCMO) tổ chức tọa đàm chuyên đề “Cập nhật chính sách thuế trong quản lý vận hành nhà chung cư – Góp ý Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)”, nhằm trao đổi, nhận diện những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan.
Doanh nghiệp cần biết: Quy trình kiểm dịch qua Cửa khẩu thông minh tại Lạng Sơn

Doanh nghiệp cần biết: Quy trình kiểm dịch qua Cửa khẩu thông minh tại Lạng Sơn

Quy trình kiểm dịch y tế mới tại Cửa khẩu thông minh Hữu Nghị được xây dựng phù hợp với mô hình vận chuyển bằng phương tiện không người lái, giúp chuẩn hóa hoạt động quản lý, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá trình thông quan.
Quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhiều năm còn được hoàn thuế?

Quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nhiều năm còn được hoàn thuế?

Nhiều người lao động vì chủ quan hoặc không nắm rõ quy định đã chậm quyết toán thuế thu nhập cá nhân nhiều năm. Theo quy định hiện hành, việc nộp hồ sơ quá hạn có thể bị xử phạt trong một số trường hợp, nhưng quyền hoàn hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vẫn được pháp luật bảo đảm nếu chưa quá thời hạn.
Kinh doanh online đừng để sai từ tài khoản ngân hàng đến hóa đơn

Kinh doanh online đừng để sai từ tài khoản ngân hàng đến hóa đơn

Thuế TP. Hà Nội cho biết phần lớn sai sót về thuế trong hoạt động thương mại điện tử không xuất phát từ hành vi trốn thuế mà do người kinh doanh chưa cập nhật chính sách mới. Cơ quan Thuế khuyến nghị chủ động nhận diện 5 nhóm rủi ro để giảm chi phí tuân thủ và tránh phát sinh vi phạm.
Bài cuối: Quản trị rủi ro pháp lý trong thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: Lộ trình hành động cho doanh nghiệp

Bài cuối: Quản trị rủi ro pháp lý trong thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ: Lộ trình hành động cho doanh nghiệp

Sau ba bài viết phân tích những vấn đề pháp lý tổng quan, nhận diện các lớp rủi ro cốt lõi đối với hàng hóa và chuỗi cung ứng, cũng như tác động đến đầu tư, chính sách công nghiệp và quản trị hợp đồng, loạt bài bước sang phần kết với trọng tâm là hành động. Thay vì tiếp cận dưới góc độ chính sách, bài viết tập trung vào những việc doanh nghiệp cần triển khai ngay: phân loại mức độ rủi ro, xây dựng lộ trình tuân thủ theo từng giai đoạn, chuẩn bị các câu hỏi mà ban lãnh đạo phải có lời giải và xác lập tư duy quản trị phù hợp trước những thay đổi trong quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ. Đây không chỉ là danh mục kiểm tra về tuân thủ, mà còn là khung tham chiếu giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng chống chịu, bảo vệ chuỗi cung ứng và duy trì năng lực cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn thương mại quốc tế ngày càng khắt khe.
Bài 4: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và những tác động tới đầu tư, chính sách công nghiệp, quản trị hợp đồng

Bài 4: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và những tác động tới đầu tư, chính sách công nghiệp, quản trị hợp đồng

Tiếp nối ba bài viết trước về những vấn đề pháp lý đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, các lớp rủi ro pháp lý trong hàng hóa và chuỗi cung ứng, cũng như những yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ, bài viết này đi sâu phân tích những tác động trực tiếp của tiến trình đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đối với môi trường đầu tư, chính sách công nghiệp và hoạt động ký kết, thực hiện hợp đồng. Khi các ưu đãi đầu tư, cơ chế trợ cấp, quy định về năng lượng, mua sắm công và thực thi cam kết thương mại ngày càng chịu sự giám sát chặt chẽ, doanh nghiệp không chỉ cần nắm bắt cơ hội mà còn phải chủ động nhận diện và quản trị các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong toàn bộ vòng đời của dự án và giao dịch thương mại.
Bài 3: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới: Các yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ

Bài 3: Đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới: Các yêu cầu tuân thủ mới vượt ngoài thuế và quy tắc xuất xứ

Sau khi phân tích bối cảnh pháp lý của quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và nhận diện các lớp rủi ro cốt lõi đối với hàng hóa, chuỗi cung ứng trong hai bài viết trước, vấn đề đặt ra không còn dừng ở thuế quan hay quy tắc xuất xứ. Trong bối cảnh các chuẩn mực thương mại toàn cầu ngày càng mở rộng, doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với một hệ thống yêu cầu tuân thủ mới, từ hàng rào kỹ thuật, an toàn sản phẩm, thương mại số, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ đến lao động, ESG và quản trị rủi ro tài chính. Đây không chỉ là các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ luật quốc gia hay cam kết quốc tế, mà ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường, yêu cầu của hợp đồng và tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nhận diện đầy đủ những chuẩn mực này sẽ giúp doanh nghiệp chuyển từ tư duy "tuân thủ để xuất khẩu" sang "tuân thủ để cạnh tranh và phát triển bền vững" trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ và các thị trường có tiêu chuẩn cao.
Bài 2: Nhận diện các lớp rủi ro pháp lý cốt lõi đối với hàng hóa và chuỗi cung ứng

Bài 2: Nhận diện các lớp rủi ro pháp lý cốt lõi đối với hàng hóa và chuỗi cung ứng

Sau khi phân tích những vấn đề pháp lý tổng quan từ kết quả đàm phán thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới, bài viết tiếp theo đi sâu vào các lớp rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt trong hoạt động xuất khẩu và tổ chức chuỗi cung ứng. Từ thuế đối ứng, quy tắc xuất xứ, chống chuyển tải, phòng vệ thương mại đến rủi ro phát sinh từ các cam kết cân bằng thương mại, đây đều là những yếu tố có thể tác động trực tiếp đến chi phí, hợp đồng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ.
Hướng dẫn 5 trường hợp kiểm tra thực phẩm nhập khẩu doanh nghiệp cần biết

Hướng dẫn 5 trường hợp kiểm tra thực phẩm nhập khẩu doanh nghiệp cần biết

Trước phản ánh của nhiều doanh nghiệp về những vướng mắc khi thực hiện quy định kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu, Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) đã ban hành văn bản hướng dẫn, làm rõ các trường hợp phải kiểm tra, được miễn kiểm tra và thủ tục áp dụng đối với từng nhóm sản phẩm.