Trong nhiều năm qua, công nghiệp điện tử đã trở thành trụ cột quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh. Sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ lớn như Samsung, Foxconn, Amkor, Hana Micron góp phần đưa địa phương trở thành một trong những trung tâm sản xuất công nghiệp công nghệ cao của Việt Nam.
Những con số tăng trưởng cho thấy sức sản xuất và năng lực xuất khẩu đáng kể. Trong 9 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Bắc Ninh ước tăng 20,16%, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 2,39 triệu tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt 101,3 tỷ USD, tăng 32,51% so với cùng kỳ năm trước.
Đến năm 2030, địa phương quy hoạch hệ thống 72 khu công nghiệp với tổng diện tích 21.519 ha và 101 cụm công nghiệp, quy mô khoảng 4.113 ha. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp hỗ trợ và hình thành các mạng lưới sản xuất có tính liên kết cao.
Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu lớn chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước đã nắm giữ những khâu có giá trị cao trong chuỗi sản xuất. Hoạt động công nghiệp hiện vẫn tập trung đáng kể vào gia công, lắp ráp, đóng gói và kiểm thử linh kiện. Trong khi đó, những công đoạn đòi hỏi hàm lượng công nghệ và chất xám cao như thiết kế chip, nghiên cứu và phát triển (R&D), chế tạo wafer vẫn chưa được hình thành tương xứng với tiềm năng.
Theo bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Công nghệ mới Hanel PT, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất Công nghiệp Bắc Ninh (BACLINK), doanh nghiệp nội địa đang phải đối mặt với ba khoảng cách lớn: năng lực quản trị và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; khả năng tiếp cận thông tin, nhà mua hàng; tư duy và vị trí trong chuỗi giá trị.
Nhận diện đúng những hạn chế này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế chính sách hỗ trợ. Bởi muốn trở thành nhà cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp không chỉ cần vốn đầu tư và máy móc hiện đại, mà còn phải đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, tiến độ, quản trị sản xuất, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường.
![]() |
| Công nhân làm việc tại khu công nghiệp Quang Châu, thành phố Bắc Ninh |
Giai đoạn 2026–2030, Bắc Ninh xác định phát triển công nghiệp theo chiều sâu, ưu tiên các ngành công nghiệp hỗ trợ điện tử, bán dẫn, cơ khí chế tạo, tự động hóa và phương tiện thông minh.
Theo ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh, ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm được địa phương đặt ra gồm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện hạ tầng đồng bộ và nâng cao năng lực cho doanh nghiệp nội địa.
Quan điểm xuyên suốt trong triển khai chính sách là lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, hỗ trợ kết nối và tháo gỡ những rào cản trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cụ thể hóa Chương trình "Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026–2030" theo Quyết định số 626/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bắc Ninh đã ban hành Quyết định số 1098/QĐ-UBND ngày 19/8/2026 và triển khai Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ với những mục tiêu cụ thể.
Theo đó, đến năm 2030, địa phương phấn đấu có từ 700 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trở lên hoạt động trong các ngành ưu tiên; khoảng 60% doanh nghiệp nội địa đạt tiêu chuẩn quản lý quốc tế và trở thành nhà cung cấp chính thức cho các tập đoàn đa quốc gia.
Cùng với đó, Bắc Ninh đặt mục tiêu tổ chức hoặc lồng ghép ít nhất 10 hoạt động đào tạo cho 1.000 lượt doanh nghiệp; tư vấn chuyên sâu cho tối thiểu 50 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã và hỗ trợ 50–100 chủ thể tiếp cận thương mại điện tử xuyên biên giới.
Để hiện thực hóa mục tiêu, ngành Công Thương địa phương tập trung vào năm nhóm nhiệm vụ: cải thiện môi trường kinh doanh và đẩy mạnh chuyển đổi số; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp nội địa với khối FDI; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn, dịch vụ tài chính và tài trợ thương mại; phát triển logistics và điều phối chuỗi cung ứng.
Đáng chú ý, hoạt động kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn đầu chuỗi được xem là một trong những hướng đi quan trọng. Thay vì chỉ hỗ trợ doanh nghiệp theo những chương trình chung, việc khảo sát nhu cầu mua hàng, đánh giá năng lực nhà cung ứng và xác định cụ thể những tiêu chuẩn còn thiếu sẽ giúp chính sách hỗ trợ đi sát yêu cầu thực tế của thị trường.
Thực tế, từ ngày 10/12/2025 đến 30/9/2026, Sở Công Thương đã cấp 15.140 giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) cho doanh nghiệp. Hoạt động này góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.
Ở góc độ logistics, ông Đinh Hoài Nam, Giám đốc Cấp cao SLP Việt Nam cho rằng, Bắc Ninh cần từng bước chuyển từ trung tâm sản xuất sang trung tâm điều phối chuỗi cung ứng của miền Bắc. Điều đó đòi hỏi sự kết nối đồng bộ giữa khu công nghiệp, hệ thống kho vận, cảng biển và cửa khẩu, qua đó giảm chi phí lưu thông và nâng cao độ tin cậy của mạng lưới cung ứng.
Thu hút FDI tiếp tục là động lực quan trọng đối với tăng trưởng công nghiệp Bắc Ninh. Tuy nhiên, thước đo phát triển trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở số lượng dự án hay kim ngạch xuất khẩu, mà còn ở khả năng doanh nghiệp trong nước tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Khi doanh nghiệp nội địa trở thành nhà cung ứng chính thức cho các tập đoàn đa quốc gia, lợi ích không chỉ dừng ở đơn hàng và doanh thu. Quá trình hợp tác còn tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp nhận quy trình quản trị hiện đại, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực và mở rộng thị trường.
Để đạt được điều đó, bên cạnh vai trò hỗ trợ của chính quyền, bản thân doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cho công nghệ, chuẩn hóa quy trình quản trị, nâng cao năng lực tài chính và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn. Các hiệp hội ngành nghề cũng cần phát huy vai trò cầu nối, cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ kết nối nhà mua hàng và thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp.
Với chiến lược Go Global, Bắc Ninh đang hướng tới một mô hình phát triển công nghiệp có chiều sâu hơn, trong đó doanh nghiệp nội địa không chỉ tham gia vào những công đoạn đơn giản mà từng bước đảm nhận vai trò quan trọng trong hệ sinh thái sản xuất công nghệ cao.
Đây chính là cơ sở để nâng cao năng lực tự chủ của nền công nghiệp, gia tăng giá trị đóng góp của doanh nghiệp Việt và củng cố vị thế của Bắc Ninh trong mạng lưới chuỗi cung ứng toàn cầu.
