Giá dầu thế giới diễn biến rất khó lường
Giá dầu thế giới vừa qua biến động dữ dội do các cuộc xung đột địa chính trị, đặc biệt là cuộc xung đột kéo dài giữa Nga và Ukraine và đến nay là chiến tranh Mỹ - Israel với Iran. Thực tế tình hình địa chính trị Trung Đông bất ổn từ lâu, đến nay càng diễn biến rất khó lường khi chiến tranh Mỹ - Israel - Iran chưa có hồi kết mà còn diễn biến hết sức phức tạp, ngày càng căng thẳng và leo thang.
Mấy tuần qua giá dầu thế giới tăng cao, có lúc lên đến hơn 100 USD/thùng, buộc giá bán lẻ xăng dầu ở nước ta phải tăng theo qua các kỳ điều hành. Ngày 19/3, khu công nghiệp Ras Laffan - cơ sở xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới bị Iran không kích, làm giá dầu tăng mạnh 4%. Lúc 20h45 ngày 18/3 (7h45 ngày 19/3 giờ Việt Nam), dầu Brent giao tháng 5 tăng 4%, lên 111,80 USD/thùng; dầu WTI giao tháng 4 tăng hơn 3%, lên 99,47 USD/thùng.
![]() |
| Hiện có hơn 3.000 tàu thuyền chở dầu đang mắc kẹt tại eo biển Hormuz. |
Các cơ sở sản xuất năng lượng ở Trung Đông có thể vẫn còn bị không kích, đe dọa rất lớn đến an ninh năng lượng thế giới.
Đặc biệt khủng hoảng tại eo biển Hormuz ngày càng căng thẳng, gần như rất khó giải quyết trong khi lập trường các bên liên quan xung đột nhau dữ dội. Hiện có hơn 3.000 tàu chở dầu đang neo đậu và tắc nghẽn gần eo biển Hormu.
Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) lượng dầu thế giới qua eo biển này chiếm đến gần 30% toàn cầu. IEA đang thực hiện kế hoạch tung 400 triệu thùng ra thị trường toàn cầu, nhằm bù đắp lượng xuất khẩu thiếu hụt từ các nước vùng Vịnh - nguyên nhân khiến giá dầu thế giới tăng vọt 40% chỉ trong tháng này nhưng về lâu dài, giá dầu vẫn rất bấp bênh.
Giá dầu biến động như vậy, chắc chắn giá xăng dầu nước ta sẽ tiếp tục biến động theo, gây tác động rất lớn về sản xuất, có thể ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa. Theo số liệu của Bộ Công thương (năm 2025), Việt Nam nhập dầu thô lên đến 89% từ Kuwait, 20% còn lại từ Nigeria và Brunei. Với xăng dầu thành phẩm Việt Nam nhập chủ yếu từ Singapore (33,7%), Hàn Quốc 37,7%, Malaysia 15,6%, Trung Quốc 14,2%.
Nhìn vào các số liệu đó, cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào dầu thô Kuwait; với xăng dầu thành phẩm lại phụ thuộc vào Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc - đó lại là những quốc gia bị ảnh hưởng lớn nhất do chiến tranh ở Trung Đông, làm tàu dầu không thể qua eo biển Hormuz.
Các nhà máy lọc dầu Việt Nam đang hoạt động ra sao?
Hiện nay nguồn cung xăng dầu ở nước ta đến từ các nguồn sau: Hai nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất và Nghi Sơn, hiện đáp ứng khoảng 70% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu của thị trường nội địa. Phần còn lại khoảng 30% thông qua nhập khẩu.
Cơ cấu này cho thấy xăng dầu tiêu thụ nội địa vẫn lệ thuộc vào việc nhập khẩu.
Vì sao Việt Nam xuất khẩu dầu thô, có nhà máy lọc dầu nhưng vẫn nhập khẩu sản phẩm xăng dầu? Theo TS Nguyễn Hồng Minh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (thuộc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam - Petrovietnam), đây là cấu trúc phổ biến của ngành năng lượng toàn cầu, khi nhiều quốc gia sản xuất dầu vẫn đồng thời xuất - nhập khẩu để tối ưu hóa chế biến, đa dạng nguồn cung và bảo đảm an ninh năng lượng.
Dù hai nhà máy lọc dầu hiện có của Việt Nam đã cung cấp 70% xăng dầu cho thị trường, nhưng vẫn chưa đáp ứng toàn bộ nhu cầu tiêu thụ của nền kinh tế đang tăng nhanh. Vì vậy, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu thêm một phần xăng dầu thành phẩm để bảo đảm cân đối cung - cầu.
Theo các chuyên gia, dầu thô trên thị trường không đồng nhất. Mỗi nhà máy lọc dầu được thiết kế để xử lý những loại dầu có đặc tính kỹ thuật nhất định. Nhà máy Lọc dầu Dung Quất có thể sử dụng một phần dầu thô trong nước, nhưng sản lượng từ các mỏ nội địa không phải lúc nào cũng đủ và ổn định để đáp ứng toàn bộ nhu cầu chế biến. Trong khi đó, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn được thiết kế chủ yếu để xử lý dầu thô nhập khẩu nên phải nhập phần lớn nguyên liệu đầu vào từ Kuwait.
Trước tình hình căng thẳng nguồn cung như hiện nay, ông Minh cho biết, các nhà máy lọc dầu ở nước ta vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm, nâng cao tính linh hoạt trong việc chế biến, pha trộn và xử lý nhiều loại dầu thô khác nhau nhằm đa dạng hóa nguồn nguyên liệu đầu vào.
![]() |
| Xăng E10 sẽ được sử dụng trên toàn quốc từ 1/6/2026 |
Thúc đẩy việc sử dụng xăng sinh học
Trong biến động giá dầu thế giới như hiện nay, điều dễ thấy là quốc gia nào sử dụng xăng sinh học (xăng pha ethanol) chủ yếu, thì ít bị tác động. Thái Lan là một ví dụ. Từ nhiều năm qua chính phủ Thái khuyến khích mạnh nhiên liệu sinh học như E10 (RON91) - phổ biến cho xe máy phổ thông, E20 (RON95) - phổ biến với xe đời mới. Trong khi xăng không ethanol (xăng khoáng) dần bị loại bỏ hoặc được bán giá cao.
Kết luận cuộc họp với Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng chiều 10/3, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định mục tiêu xuyên suốt là dứt khoát không để thiếu năng lượng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Một trong những giải pháp được nhấn mạnh là đẩy mạnh sử dụng xăng sinh học E10 theo các nghị quyết của Chính phủ, nhằm tăng tính chủ động về nguồn cung và giảm phụ thuộc vào xăng khoáng.
Trước đó, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư 50 về lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam. Theo đó, từ ngày 1/6/2026, xăng không chì theo quy chuẩn kỹ thuật hiện hành sẽ bắt buộc pha trộn thành xăng sinh học E5 RON92 (E5) và chủ yếu là E10 RON95 (E10). Đây không chỉ là bước đi nhằm giảm phát thải và thúc đẩy kinh tế xanh, mà còn mở ra cơ hội ổn định đầu ra cho nông sản, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.
Tại hội nghị phổ biến Thông tư số 50/2025 do Bộ Công Thương tổ chức ngày 11/3 ở TPHCM, TS. Đào Duy Anh, Phó cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), cho biết từ ngày 1/6 tới, xăng khoáng truyền thống sẽ không còn được phép lưu hành trên thị trường.
Theo TS Anh, tất cả xăng phân phối cho phương tiện động cơ xăng tại Việt Nam sẽ phải chuyển sang xăng sinh học. Thị trường chỉ còn hai mặt hàng chính là xăng E5 và E10. Riêng đối với một số phương tiện đời cũ, chưa tương thích với xăng sinh học sẽ tiếp tục được duy trì như một giải pháp chuyển tiếp đến năm 2030.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, Việt Nam đã có lộ trình phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học nhưng giữa biến động giá dầu như hiện nay, yêu cầu phải thúc đẩy triển khai các giải pháp thay thế sớm hơn dự kiến.
Theo ông Tân, nhiều quốc gia đã áp dụng rộng rãi các loại xăng sinh học như E10, E15, E20 hoặc tỷ lệ phối trộn cao hơn, như Mỹ, Brazil, các nước châu Âu, Trung Quốc và Thái Lan… xăng sinh học đã trở thành một phần quan trọng trong cơ cấu năng lượng.
Ở nước ta, xăng E5 được phân phối trên phạm vi toàn quốc từ năm 2018 nhưng tiêu thụ ở mức rất thấp; xăng E10 bắt đầu được triển khai từ tháng 8/2025.
Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), hiện nước ta có 12/26 doanh nghiệp đầu mối xăng dầu đã có cơ sở pha chế, phối trộn xăng sinh học. Trong số này, 3 thương nhân đã được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp phép cơ sở pha chế xăng sinh học E10. Chín doanh nghiệp đầu mối còn lại đang hoàn thiện các thủ tục để xin cấp giấy phép.
Đây cũng là điểm nghẽn trong việc trong việc đưa xăng sinh học ra thị trường. Nhiều doanh nghiệp vẫn đang gặp vướng mắc trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Đây là nút thắt có thể được tháo gỡ khi dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu được Chính phủ thông qua.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải nhanh chóng đàm phán và ký kết hợp đồng mua ethanol để đảm bảo nguồn cung để bắt đầu từ 1/6 xăng sinh học đưa vào tiêu thụ đại trà.
Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam ông Đỗ Văn Tuấn cho biết, sản lượng tiêu thụ xăng trên cả nước hiện vào khoảng 1 triệu m³/tháng, trong đó xăng RON92 chiếm khoảng 15% và RON95 chiếm khoảng 85%. Với cơ cấu tiêu thụ này, nhu cầu ethanol để pha chế xăng sinh học ước khoảng 92.000-100.000 m³ mỗi tháng.
Việt Nam có 5 nhà máy ethanol đang vận hành ở mức cầm chừng, với khả năng cung ứng ngay khoảng 25.000 m³, đáp ứng gần 30% nhu cầu.
Vấn đề còn lại là nguồn nhập khẩu ethanol, loại nhiên liệu ít biến động khi giá xăng dầu tăng cao. Theo ông Tuấn, Việt Nam có thể nhập khẩu ethanol từ Mỹ - quốc gia chiếm 60 - 65% sản lượng toàn cầu và Thái Lan. Riêng Thái Lan hiện có sản lượng ethanol khoảng 2,6 triệu m³/năm, trong khi nhu cầu trong nước khoảng 1,3 triệu m³, tức còn dư khoảng 1,3 triệu m³ - tương đương hơn 100.000 m³ mỗi tháng.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh hiện nay, ethanol dễ mua hơn xăng dầu. Nguyên nhân là giá các nguyên liệu đầu vào để sản xuất ethanol tuy có biến động nhưng không tăng cùng nhịp với giá dầu. Ngoài ra, hành lang vận chuyển ethanol ít chịu tác động từ các điểm nóng địa chính trị như Trung Đông.
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, rất thuận lợi trong việc sản xuất xăng sinh học. Ethanol sinh học được sản xuất chủ yếu thông qua quá trình lên men các loại nguyên liệu chứa đường, tinh bột, hoặc xenluloza. Các nguồn nguyên liệu phổ biến bao gồm mía, ngô (chủ yếu ở Mỹ và Brazil), sắn, lúa mì, rỉ mật đường, cũng như phế phẩm nông nghiệp (rơm rạ, vỏ bào) và rác thải hữu cơ.
Điều lo ngại khác là Việt Nam có một số nhà máy sản xuất ethanol, đầu tư hàng ngàn tỷ đồng đã bị “đắp chiếu” nhiều năm qua.
Trong bối cảnh giá xăng dầu tăng cao, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và việc Việt Nam thực hiện cam kết Netzero vào năm 2050, việc áp dụng và phát triển nhiên liệu sinh học là hướng đi quan trọng, tất yếu nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đa dạng hóa nguồn cung nhiên liệu, thực hiện các cam kết quốc tế về ứng phó biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
| Cơ hội hồi sinh các nhà máy sản xuất ethanol? Bộ Công Thương đề xuất áp dụng xăng E10 trên toàn quốc từ 1/6/2026. Đây có phải cơ hội hồi sinh cho một số nhà máy sản xuất ethanol đang “đắp chiếu”, khi phần lớn những dự án nghìn tỷ vẫn đang thua lỗ, dừng sản xuất? Theo Bộ Công Thương, hiện nay cả nước có 6 nhà máy đang sản xuất nhiên liệu sinh học E100 được xây dựng bao gồm: Nhà máy cồn Tùng Lâm (Đồng Nai); nhà máy cồn Đại Tân (Quảng Nam); nhà máy ethanol Dung Quất (Quảng Ngãi); ethanol Bình Phước; ethanol Đại Việt; ethanol Đắk Tô. Riêng nhà máy ethanol Phú Thọ đã dừng hoạt động. Những dự án này từng được xem là “trụ cột” của chiến lược năng lượng xanh của Việt Nam trong giai đoạn triển khai xăng E5. Thế nhưng, khi xăng E5 đưa ra thị trường thất bại, những dự án này đều chịu chung số phận. Đến nay, chỉ còn hai cơ sở chật vật duy trì được hoạt động, gồm: Nhà máy ethanol Tùng Lâm (Đồng Nai) và ethanol Đại Tân (Quảng Nam)… Phần lớn các dự án đều dở dang, hoặc đóng băng hoặc biến thành “cục nợ” kéo dài. Theo Bộ Công Thương, nếu cả 6 nhà máy ethanol hiện có vận hành 100% công suất, có thể đạt khoảng 600.000 m³ E100/năm, đáp ứng 40% nhu cầu pha chế E10 (khoảng 1,5 triệu m³ ethanol/năm cho tổng tiêu thụ 15 triệu m³ xăng). Phần còn thiếu sẽ được bù đắp bằng nguồn nhập khẩu từ Mỹ, Brazil, hai cường quốc ethanol với giá cạnh tranh. |