![]() |
| Tốc độ tăng GRDP và tỉ trọng đóng góp vào tăng trưởng cả nước theo vùng kinh tế xã hội năm 2025 |
Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn rủi ro, phục hồi chậm và không đồng đều, nhiều địa phương trên cả nước vẫn duy trì đà tăng trưởng khá, góp phần quan trọng vào mức tăng GDP 8,02% của Việt Nam.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tăng trưởng GRDP của 34 tỉnh, thành phố dao động từ 5,84% đến 11,89%. Phần lớn địa phương đạt mức tăng trên 7%, cho thấy xu hướng phục hồi tương đối đồng đều giữa các vùng, dù khoảng cách giữa nhóm dẫn đầu và nhóm cuối vẫn còn đáng kể.
Bức tranh này phản ánh năng lực thích ứng của kinh tế địa phương trong bối cảnh mới, khi sản xuất, đầu tư và tiêu dùng dần lấy lại đà mở rộng, tạo nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.
Đồng bằng sông Hồng tiếp tục giữ vai trò “đầu kéo” với mức tăng GRDP 9,74%, cao hơn đáng kể so với bình quân cả nước và đóng góp tới 36,41% vào tăng trưởng chung. Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh và Quảng Ninh là những điểm sáng nhờ hệ sinh thái công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ hiện đại, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ.
Vùng Đông Nam Bộ – khu vực có quy mô kinh tế lớn nhất cả nước – đạt mức tăng 7,98%, đóng góp 31,40% vào tăng trưởng chung. TP.HCM và Đồng Nai tiếp tục giữ vai trò đầu tàu nhờ công nghiệp, logistics và dịch vụ tài chính phát triển.
Các vùng còn lại duy trì đà tăng ổn định: Trung du và miền núi phía Bắc tăng 8,53%; Bắc Trung Bộ tăng 8,37%; Nam Trung Bộ và Tây Nguyên tăng 7,74%. Đồng bằng sông Cửu Long tăng 7,24%, thấp hơn nhưng tương đối ổn định, chủ yếu dựa vào nông nghiệp hàng hóa và chế biến nông sản.
Theo TS Lê Đăng Doanh, động lực tăng trưởng của các địa phương vẫn chủ yếu đến từ ba trụ cột: công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với FDI; xây dựng nhờ giải ngân đầu tư công; và dịch vụ nhờ tiêu dùng nội địa, du lịch phục hồi.
Năm 2025 ghi nhận 6 địa phương tăng trưởng trên 10%. Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 11,89%, tiếp theo là Hải Phòng 11,81%, Ninh Bình, Phú Thọ và Bắc Ninh đều đạt trên 10,27%.
Những địa phương này có điểm chung là nền tảng công nghiệp vững chắc, thu hút FDI hiệu quả và cải thiện mạnh môi trường đầu tư.
Tại Quảng Ninh, các khu kinh tế ven biển cùng dự án FDI tại Đông Mai, Hải Hà và tổ hợp công nghiệp ô tô Thành Công Việt Hưng tạo cú hích lớn cho tăng trưởng. Hải Phòng duy trì tốc độ cao nhờ khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải và các dự án của LG. Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng gần 16%, đóng góp gần 67% tăng trưởng của thành phố.
Bắc Ninh sau khi sáp nhập với Bắc Giang hình thành trung tâm sản xuất điện tử quy mô lớn. Tăng trưởng 10,3% của tỉnh chủ yếu nhờ ngành sản xuất điện tử, máy vi tính và quang học tăng trên 20%, với sự mở rộng của Samsung, Amkor, Fulian.
Trong nhóm địa phương có quy mô kinh tế lớn, Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đồng Nai và Bắc Ninh đóng góp tới 55,4% vào tăng trưởng chung của cả nước.
Hà Nội tăng trưởng 8,16%, dựa chủ yếu vào dịch vụ. TP.HCM tăng 7,53%, với khu vực dịch vụ tăng 8,76% tiếp tục là động lực chính. Riêng hai thành phố này đóng góp hơn 36 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung.
Đồng Nai đạt mức tăng 9,63% nhờ công nghiệp và xây dựng tăng hơn 11%, đặc biệt là tiến độ thi công sân bay Long Thành và hạ tầng giao thông.
Trong nhóm thành phố trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng tăng 9,18% nhờ xây dựng và dịch vụ; TP Huế tăng 8,5% nhờ công nghiệp, xây dựng và du lịch; Cần Thơ tăng 7,23%, giữ vai trò trung tâm chế biến nông sản và logistics vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Bức tranh GRDP năm 2025 không chỉ phản ánh tốc độ tăng trưởng mà còn cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng bền vững hơn. Công nghiệp công nghệ cao, logistics, dịch vụ hiện đại và kinh tế số ngày càng đóng vai trò chủ đạo, trong khi nông nghiệp chuyển sang hướng chất lượng cao, ứng dụng công nghệ.
Nhiều địa phương quy mô nhỏ đang tận dụng lợi thế hạ tầng, đầu tư công và chuyển dịch cơ cấu kinh tế để gia nhập nhóm tăng trưởng khá, tạo thêm các cực tăng trưởng mới bên cạnh những đầu tàu truyền thống.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, bước sang giai đoạn 2026–2030, các địa phương cần xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP bám sát tiềm năng và lợi thế so sánh của từng ngành, từng lĩnh vực. Việc rà soát phải toàn diện để xác định rõ ngành, sản phẩm chủ lực và các dự án động lực có khả năng tạo bứt phá.
Đồng thời, cần thiết lập cơ chế theo dõi tăng trưởng định kỳ theo tháng, quý nhằm bám sát diễn biến sản xuất, kinh doanh và đầu tư trên địa bàn; chủ động nhận diện các điểm nghẽn về thể chế, đất đai, vốn, lao động, hạ tầng và thị trường để kịp thời tháo gỡ cho doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án lớn có tác động lan tỏa.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và thu hút FDI có chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ, phát triển nhân lực sẽ là yếu tố quyết định để duy trì đà tăng trưởng bền vững của các địa phương trong giai đoạn tới.