![]() |
| Ảnh minh họa: AI. |
Số liệu từ báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 của các ngân hàng cho thấy tăng trưởng đã tiếp tục tăng trưởng trong quý đầu năm. Số dư cho vay khách hàng của 27 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính (chưa có Agribank) đạt tăng 3,6% so với đầu năm đạt hơn 14,16 triệu tỷ đồng.
Ngân hàng quốc doanh BIDV tiếp tục giữ vị trí quán quân về cho vay với gần 2,43 triệu tỷ đồng, tăng 2,4% so với cuối năm trước. Tiếp đó là VietinBank với hơn 2 triệu tỷ đồng tín dụng, tăng 1,8%. Đây cũng là hai ngân hàng có dư nợ tín dụng khách hàng đạt trên 2 triệu tỷ đồng tại cuối quý I/2026.
Trong khi đó, Vietcombank xếp thứ ba với dư nợ tín dụng đạt 1,75 triệu tỷ đồng, tăng 4,9%n sau ba tháng.
Nếu tính chung cả ba ngân hàng quốc doanh này, thì tổng dư nợ cho vay khách hàng đạt hơn 6.200 tỷ đồng, chiếm tới 42% tổng dư nợ cho vay toàn ngành ngân hàng.
Trong nhóm ngoài quốc doanh, MB tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu với 1,12 triệu tỷ đồng, tăng 3,4%. VPBank xếp á quân ngay sau đó với tổng cho vay lần đầu vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, tăng hơn 10%. Đây là mức tăng trưởng cao so với mặt bằng chung toàn hệ thống.
![]() |
| Nguồn: Báo cáo tài chính quý I/2026. |
Ngoài nhóm 5 ngân hàng cho vay vượt 1 triệu tỷ đồng, những cái tên lọt TOP 10 về cho vay còn có gồm Techcombank, SCB, SHB, Sacombank và HDBank.
Trong 27 ngân hàng thống kê số liệu, có 25 nhà băng ghi nhận tăng trưởng cho vay, trong đó ba ngân hàng có tăng trưởng hai chữ số gồm VPBank (tăng 10,3%), HDBank (tăng 10%) và NCB (tăng 19,8%). Ba ngân hàng này đều là những tổ chức được cấp hạn mức tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2026, khoảng 35%.
Ngược lại, chỉ hai nhà băng có dư nợ cho vay khách hàng giảm gồm PGBank (giảm 4,2%) và ABBank (giảm 2,9%).
Theo kết quả khảo sát từ các tổ chức tín dụng (TCTD) cuối quý I, các ngân hàng nhận định mặc dù nhu cầu của khách hàng được đánh giá tiếp tục “cải thiện” trong quý I, nhưng mức cải thiện được nhận định thấp hơn quý trước và kỳ vọng.
Trong quý II/2026 và cả năm 2026, các TCTD kỳ vọng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng sẽ tiếp tục “cải thiện” hơn so với quý I và năm trước, tuy nhiên mức độ cải thiện kỳ vọng đã thu hẹp hơn so với trước đó. Trong đó nhu cầu vay vốn tiếp tục được các TCTD kỳ vọng “cải thiện” nhiều hơn nhu cầu gửi tiền và thanh toán.
Theo kế hoạch năm 2026, Ngân hàng nhà nước (NHNN) dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dung.
Ngày 31/12/2025, NHNN đã có văn bản gửi các TCTD thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các TCTD chủ động triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó, Phó Thống đốc cũng cho biết cơ quan này đã yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, lĩnh vực bất động sản trong năm 2026 nhằm hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời đảm bảo ổn định thanh khoản thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động hệ thống các TCTD.
Các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai tích cực, đồng bộ nhằm hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá như: nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ nền kinh tế ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống; ngành công nghiệp và xây dựng…
Bên cạnh đó, các TCTD đã tích cực giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, như: Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản đã nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng, Chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL được đẩy mạnh triển khai và kịp thời phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.