Từ ngày 1/10/2026, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có thêm một kênh hiện diện tại khu thương mại tự do và khu phi thuế quan thông qua phòng giao dịch. Tuy nhiên, cánh cửa này không mở rộng đại trà: chi nhánh phải có giá trị thực của vốn được cấp tối thiểu 3.000 tỷ đồng, kinh doanh có lãi, kiểm soát tốt chất lượng tài sản và chỉ được lập một phòng giao dịch trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Một chi nhánh chỉ được mở một phòng giao dịch
Đây là một trong những giới hạn đáng chú ý nhất tại Thông tư 52/2026/TT-NHNN, do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 30/9/2026 và có hiệu lực từ 1/10/2026.
Theo quy định mới, mỗi chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được thành lập 1 phòng giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam. Phòng giao dịch phải đặt trụ sở trong khu thương mại tự do hoặc khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế đặc biệt.
Quy định này khiến việc lựa chọn địa điểm trở thành một quyết định quan trọng ngay từ khi ngân hàng chuẩn bị hồ sơ. Không chỉ phải đáp ứng yêu cầu về khu vực được phép đặt phòng giao dịch, địa điểm còn được cơ quan quản lý xem xét về sự cần thiết, sự phù hợp với quy hoạch và nhu cầu phục vụ doanh nghiệp, nhà đầu tư tại khu vực đó.
![]() |
Vốn tối thiểu 3.000 tỷ đồng, nợ xấu không quá 3%
Để được chấp thuận thành lập phòng giao dịch, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu về năng lực tài chính và an toàn hoạt động.
Đáng chú ý, giá trị thực của vốn được cấp tại ngày 31/12 của năm liền trước và tại tháng liền trước tháng đề nghị phải tối thiểu 3.000 tỷ đồng. Chi nhánh cũng phải có kết quả kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán của năm liền trước.
Về chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm cuối năm trước và ngày cuối cùng của tháng liền trước tháng đề nghị không được vượt quá 3%, hoặc mức khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ.
Trong 12 tháng liền trước tháng đề nghị, chi nhánh còn phải tuân thủ các giới hạn bảo đảm an toàn trong hoạt động, thực hiện đầy đủ quy định về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro.
Như vậy, việc có đủ quy mô vốn không phải điều kiện duy nhất. Chi nhánh muốn mở rộng hiện diện vào khu thương mại tự do còn phải chứng minh chất lượng hoạt động và khả năng kiểm soát rủi ro trong thời gian trước đó.
Không chỉ vốn, ngân hàng còn phải đạt xếp hạng A hoặc B
Thông tư đặt thêm các yêu cầu về quản trị và tuân thủ.
Chi nhánh phải có hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp, không bị khuyết Tổng giám đốc hoặc Giám đốc tại thời điểm đề nghị. Trong 12 tháng liền trước tháng đề nghị, chi nhánh không được bị xử phạt vi phạm hành chính về tổ chức, quản trị, điều hành và cấp tín dụng, trừ trường hợp liên quan đến quy định nội bộ.
Đặc biệt, chi nhánh phải được Ngân hàng Nhà nước xếp hạng A hoặc B theo kết quả xếp hạng gần nhất tại thời điểm đề nghị và thời điểm chấp thuận.
Các điều kiện này cho thấy cơ chế mới hướng tới những chi nhánh đã có nền tảng hoạt động tương đối ổn định thay vì mở rộng mạng lưới chỉ dựa trên nhu cầu thị trường.
Phục vụ nhà đầu tư và doanh nghiệp ngay trong khu
Phòng giao dịch được thực hiện các hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được ghi trong giấy phép thành lập, ngoại trừ những hoạt động mà phòng giao dịch của ngân hàng thương mại không được thực hiện theo quy định về mạng lưới hoạt động.
Tuy nhiên, phạm vi khách hàng được xác định khá cụ thể.
Theo Thông tư, phòng giao dịch được cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư nước ngoài tại khu thương mại tự do, khu phi thuế quan nơi đặt trụ sở; đồng thời phục vụ doanh nghiệp có trụ sở chính và hoạt động sản xuất, kinh doanh trong khu thương mại tự do hoặc doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong khu phi thuế quan đó.
Điều này tạo ra một mô hình ngân hàng gắn trực tiếp với hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong từng khu vực thay vì một phòng giao dịch phục vụ khách hàng đại trà trên toàn địa bàn.
Thủ tục có nhiều mốc thời gian rõ ràng
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải gửi một bộ hồ sơ đến Ngân hàng Nhà nước. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ, trong 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bổ sung, hoàn thiện.
Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước lấy ý kiến của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực liên quan. Các cơ quan được lấy ý kiến có 7 ngày làm việc để phản hồi.
Trong 7 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ ý kiến, Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận việc thành lập phòng giao dịch. Sau khi được chấp thuận, chi nhánh có tối đa 12 tháng để khai trương; quá thời hạn này, văn bản chấp thuận đương nhiên hết hiệu lực.
Một điểm doanh nghiệp và nhà đầu tư trong khu cần lưu ý là địa vị của phòng giao dịch gắn chặt với khu thương mại tự do hoặc khu phi thuế quan. Nếu ranh giới khu thay đổi khiến địa điểm phòng giao dịch không còn nằm trong khu vực được phép, chi nhánh phải thay đổi địa điểm; nếu không thực hiện, phòng giao dịch phải chấm dứt hoạt động.
Trường hợp khu thương mại tự do chấm dứt hoạt động toàn bộ hoặc khu phi thuế quan chấm dứt hoạt động, phòng giao dịch cũng đương nhiên chấm dứt hoạt động theo quy định.
Thông tư 52/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, tạo khuôn khổ riêng cho hoạt động của phòng giao dịch thuộc chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong khu thương mại tự do và khu phi thuế quan. Với các chi nhánh đang tính toán mở rộng hiện diện, ba con số cần ghi nhớ là 3.000 tỷ đồng vốn được cấp, tối đa 3% nợ xấu và chỉ 1 phòng giao dịch trên toàn Việt Nam.