Mặt bằng lãi suất đang đứng trước yêu cầu điều chỉnh theo hướng hỗ trợ nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2026. Nhiều ngân hàng đồng thời giảm lãi suất huy động và tung các gói tín dụng ưu đãi, tạo thêm dư địa tài chính cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân. Tuy nhiên, mức giảm công bố mới là bước đầu; điều quan trọng là nguồn vốn có đến đúng đối tượng, đúng nhu cầu và giúp giảm chi phí vay thực tế hay không.
![]() |
| Loạt ngân hàng đang tiếp tục giảm lãi suất huy động, triển khai các gói tín dụng ưu đãi với quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng. Những động thái này hưởng ứng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, đi đôi với bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng - Ảnh minh họa. |
Nhiều gói tín dụng ưu đãi được triển khai
Thông tin cập nhật đến ngày 26/10 cho thấy, VPBank triển khai chương trình giảm 1,5 điểm phần trăm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân hoạt động trong 6 nhóm ngành nghề trọng điểm. Ngân hàng cũng dành hạn mức 10.000 tỷ đồng để giảm lãi suất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh. Trước đó, từ ngày 20/10, VPBank đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động trực tuyến đối với một số kỳ hạn.
Sacombank triển khai gói tín dụng ưu đãi 20.000 tỷ đồng dành cho khách hàng cá nhân, với mức giảm lãi suất từ 1,5–2 điểm phần trăm/năm. Trong đó, 10.000 tỷ đồng được bố trí cho nhu cầu vay phục vụ sản xuất, kinh doanh, bao gồm hộ kinh doanh; 10.000 tỷ đồng còn lại dành để giảm lãi suất cho khách hàng hiện hữu đủ điều kiện. Trước đó, ngân hàng công bố gói tín dụng 40.000 tỷ đồng dành cho khách hàng doanh nghiệp, với mức giảm lãi suất cho vay 2 điểm phần trăm/năm.
Ở nhóm khách hàng doanh nghiệp, MSB triển khai gói tín dụng 10.000 tỷ đồng, lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam từ 7,5%/năm, thấp hơn tối thiểu 2 điểm phần trăm/năm so với mức thông thường theo điều kiện chương trình. Ngân hàng đồng thời giảm 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất huy động đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên theo chính sách áp dụng.
VIB cũng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 15.000 tỷ đồng, với lãi suất từ 8%/năm dành cho doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành, lĩnh vực được khuyến khích và ưu tiên phát triển, như doanh nghiệp nhỏ và vừa, sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, xuất nhập khẩu và các đơn vị tham gia chuỗi cung ứng.
Các chương trình cho thấy nỗ lực mở rộng hỗ trợ vốn của ngân hàng, nhưng mức lãi suất ưu đãi thực tế còn phụ thuộc hồ sơ, lĩnh vực hoạt động, thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn và khả năng trả nợ của từng khách hàng. Vì vậy, quy mô gói tín dụng không đồng nghĩa toàn bộ nguồn vốn đã được giải ngân, cũng không bảo đảm mọi doanh nghiệp đều được hưởng mức giảm cao nhất.
NHNN tăng cường giám sát việc giảm lãi suất
Ngày 18/10/2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; đồng thời tập trung giảm 1,5–2%/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Cơ quan quản lý cũng yêu cầu các ngân hàng không chạy đua tăng lãi suất huy động, tránh cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát chặt tín dụng đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Tại cuộc họp ngày 19/10 với lãnh đạo các tổ chức tín dụng, NHNN tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu triển khai giảm lãi suất gắn với bảo đảm an toàn hệ thống. Theo thông tin được công bố, đến cuối tuần trước cuộc họp, tốc độ tăng tín dụng cao hơn tốc độ tăng huy động vốn, đặt ra yêu cầu cân đối nguồn vốn và thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.
Việc giám sát lãi suất vì thế không chỉ dừng ở biểu niêm yết. NHNN yêu cầu theo dõi lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới, qua đó tăng khả năng đánh giá mức độ thực hiện chỉ đạo. Trường hợp ngân hàng không chấp hành, cơ quan quản lý có thể xem xét biện pháp xử lý, trong đó có việc giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.
| Để tránh tình trạng giảm trên biểu lãi suất nhưng hiệu quả thực tế không tương xứng, NHNN sẽ theo dõi số liệu bình quân của các giao dịch phát sinh mới thông qua hệ thống báo cáo thống kê theo Công văn số 6194/NHNN-DBTK ngày 7/8/2023. Đặc biệt, trường hợp không thực hiện chỉ đạo, ngân hàng có thể bị áp dụng biện pháp xử lý nghiêm, bao gồm xem xét giảm hoặc giao thấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Ngày 18/10/2026, NHNN cũng đã ban hành văn bản số 9608/NHNN-CSTT về việc triển khai các giải pháp hoạt động của các tổ chức tín dụng nhằm tiếp tục góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống ngân hàng. |
Giảm chi phí vốn phải đi cùng kỷ luật tín dụng
Giám đốc Economica Việt Nam - TS. Lê Duy Bình đánh giá về nỗ lực giảm lãi suất cho rằng đây là sự chia sẻ lợi ích và nỗ lực lớn của ngành Ngân hàng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nguy cơ lạm phát còn hiện hữu và áp lực từ bên ngoài vẫn lớn.
Theo ông, nỗ lực của hệ thống ngân hàng cần được đáp lại bằng việc doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả hơn, cải thiện năng suất và tạo ra tăng trưởng tốt hơn. Bên cạnh tín dụng ngân hàng, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu cần phát huy vai trò huy động vốn, chia sẻ gánh nặng cung cấp nguồn lực tài chính cho nền kinh tế.
Ở góc độ tạo dư địa giảm lãi suất, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng các ngân hàng cần rà soát chi phí, cải thiện quy trình, ứng dụng công nghệ và tiết giảm những khoản chi chưa cần thiết, đồng thời bảo đảm chất lượng dịch vụ và an toàn hoạt động.
Ông cũng nhấn mạnh vai trò của việc nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu và ngăn nợ mới phát sinh. Tuy nhiên, thu hồi nợ không tự động tạo ra nguồn vốn mới hoặc bảo đảm lãi suất giảm ngay; chất lượng tài sản tốt hơn giúp ngân hàng định giá vốn sát hơn với rủi ro thực tế. “Tuy nhiên, hỗ trợ doanh nghiệp cần song hành với an toàn hệ thống”, ông Huy lưu ý.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng vào cuối năm, giảm lãi suất cần đi cùng điều hành thanh khoản linh hoạt, theo dõi lạm phát, tỷ giá và chất lượng tín dụng. Các ngân hàng phải công khai điều kiện hưởng ưu đãi, thẩm định đúng khả năng trả nợ và không hạ chuẩn cho vay để chạy theo tăng trưởng dư nợ.
Về phía doanh nghiệp, vốn rẻ chỉ phát huy hiệu quả khi được đưa vào phương án kinh doanh khả thi, có dòng tiền và kế hoạch hoàn trả rõ ràng. Khi đó, làn sóng giảm lãi suất mới có thể chuyển từ cam kết chính sách thành mức tiết giảm chi phí thực tế, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh mà không tích tụ rủi ro cho hệ thống tài chính.
