Bài toán tiết kiệm năng lượng không chỉ nằm ở việc giảm điện, nhiên liệu tiêu thụ mà còn ở khả năng huy động vốn để đổi mới máy móc, thiết bị và quy trình sản xuất. Với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị cần đầu tư lớn để chuyển đổi công nghệ, nguồn tài chính vẫn là rào cản đáng kể.
![]() |
| An ninh năng lượng và phát triển ngành năng lượng bền vững luôn là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ Việt Nam - Ảnh minh họa: https://moit.gov.vn |
Để giải quyết vấn đề này, Bộ Công Thương đang xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, với vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Theo phương án đang được đề xuất, quỹ sẽ cung cấp nguồn vốn ưu đãi thông qua các tổ chức tín dụng, hỗ trợ lãi suất và kết hợp hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp.
Vốn ưu đãi hướng đến các dự án tiết kiệm năng lượng
Theo thông tin công bố trên Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương ngày 20/10/2026, cơ quan này đang tham vấn, hoàn thiện hồ sơ thành lập quỹ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Đây là bước xây dựng cơ chế tài chính nhằm khơi thông nguồn lực cho các dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Theo phương án được giới thiệu, quỹ hoạt động theo mô hình quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải bảo toàn vốn. Thay vì chỉ dựa vào các khoản hỗ trợ không hoàn lại, quỹ dự kiến sử dụng những công cụ tài chính có khả năng quay vòng, qua đó duy trì nguồn lực hỗ trợ cho các dự án tiếp theo.
Vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn trong giai đoạn 2027–2029. Đây là nguồn vốn ban đầu để hình thành quỹ, không đồng nghĩa toàn bộ số tiền sẽ được cấp trực tiếp cho doanh nghiệp dưới hình thức tài trợ.
Theo phương án đề xuất, quỹ sẽ thực hiện cho vay ưu đãi bán buôn thông qua các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng tham gia tiếp nhận nguồn vốn để cho doanh nghiệp vay lại, đồng thời thực hiện thẩm định và chịu rủi ro tín dụng đối với khách hàng theo cơ chế được phê duyệt.
Cách tiếp cận này hướng tới tận dụng mạng lưới và năng lực thẩm định của hệ thống ngân hàng, đồng thời bổ sung nguồn vốn chuyên biệt cho các dự án tiết kiệm năng lượng.
| Năng lượng có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chính vì vậy, những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng khâu cải thiện chất lượng sử dụng năng lượng trong chính sách phát triển bền vững ngành năng lượng nói riêng và an ninh năng lượng quốc gia nói chung, coi đó là một thành tố chủ chốt trong phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Mục tiêu đặt ra là phải tiết kiệm từ 8 - 10% lượng năng lượng cần thiết để phát triển đất nước theo kịch bản phát triển bình thường, tương đương với khoảng 60 triệu tấn dầu quy đổi. |
Hỗ trợ lãi suất 2%/năm, thời hạn vay tối đa 10 năm
Một trong những nội dung đáng chú ý của đề án là cơ chế hỗ trợ lãi suất. Theo phương án đang được xây dựng, mức hỗ trợ dự kiến là 2%/năm; thời hạn cho vay tối đa 10 năm, thời gian ân hạn tối đa hai năm.
Nếu được thông qua và triển khai theo phương án này, cơ chế hỗ trợ có thể giúp doanh nghiệp giảm một phần chi phí vốn khi đầu tư thay thế thiết bị tiêu hao nhiều năng lượng, cải tiến dây chuyền hoặc triển khai các giải pháp quản lý năng lượng.
Tuy nhiên, mức hỗ trợ thực tế mà mỗi doanh nghiệp được hưởng còn phụ thuộc vào quy định chính thức, điều kiện của chương trình, loại dự án và cơ chế phối hợp giữa quỹ với các tổ chức tín dụng. Do đề án đang trong quá trình hoàn thiện, doanh nghiệp chưa thể mặc nhiên coi mức hỗ trợ 2%/năm là quyền lợi đã có hiệu lực.
Để kiểm soát rủi ro tài chính, phương án cũng đưa ra các giới hạn cho vay. Theo nội dung đề xuất, khoản vay đối với một dự án không vượt quá 70% tổng mức đầu tư; dư nợ của một khách hàng không vượt quá 10% vốn chủ sở hữu của quỹ; dư nợ của một tổ chức tín dụng không vượt quá 40% tổng dư nợ cho vay bán buôn.
Bên cạnh hoạt động cho vay và hỗ trợ lãi suất, quỹ dự kiến triển khai kiểm toán năng lượng, đào tạo nhân lực, hỗ trợ kỹ thuật, thúc đẩy chuyển đổi thị trường và thực hiện các nhiệm vụ đầu tư chính sách. Nguồn lực dành cho những nghiệp vụ hỗ trợ không hoàn lại dự kiến không vượt quá 10% vốn điều lệ lũy kế hằng năm.
Cơ hội giảm chi phí, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp xuất khẩu
Áp lực chuyển đổi công nghệ ngày càng rõ khi doanh nghiệp phải đồng thời kiểm soát chi phí sản xuất và đáp ứng các yêu cầu môi trường từ thị trường xuất khẩu.
Với những doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, hiệu quả sử dụng năng lượng không chỉ ảnh hưởng đến hóa đơn điện, nhiên liệu mà còn liên quan đến cường độ phát thải và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất xanh.
![]() |
| Bộ Công Thương xây dựng Đề án thành lập Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả với vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn ưu đãi, đổi mới công nghệ, giảm chi phí năng lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh. |
Theo thông tin từ Bộ Công Thương, quỹ được kỳ vọng hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn để triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng, đồng thời kết nối nguồn lực trong nước, quốc tế và các nguồn vốn xã hội hóa.
Dù vậy, hiệu quả của quỹ sẽ không chỉ được quyết định bởi quy mô vốn ban đầu. Khả năng tiếp cận vốn, tiêu chí lựa chọn dự án, quy trình thẩm định và tính minh bạch trong phân bổ nguồn lực cũng là những yếu tố quan trọng.
Về nguyên tắc hoạt động, quỹ dự kiến không nhận tiền gửi, không phát hành bảo lãnh tín dụng và không cạnh tranh trực tiếp với các tổ chức tín dụng. Quỹ phải tự bảo đảm chi phí vận hành từ các nguồn thu hợp pháp, đồng thời chịu sự kiểm toán và tuân thủ quy định về quản lý tài chính.
Đề án hướng tới bộ máy quản lý tinh gọn, không làm tăng tổng biên chế. Theo lộ trình dự kiến trong hồ sơ đang được xây dựng, Bộ Công Thương đặt mục tiêu hoàn thiện đề án để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trong tháng 12/2026; quỹ dự kiến bắt đầu hoạt động từ ngày 1/1/2027 và được cấp đủ vốn điều lệ vào năm 2029.
Ở thời điểm hiện tại, các mức vốn, lãi suất và thời hạn vay nêu trên vẫn là phương án đề xuất, chưa phải chính sách cho vay đã chính thức áp dụng. Khi cơ chế thành lập, tổ chức và hoạt động được cấp có thẩm quyền quyết định, doanh nghiệp mới có căn cứ xác định cụ thể điều kiện tham gia và khả năng tiếp cận nguồn vốn.
