Mỗi thời khắc chuyển sang một chu kỳ phát triển mới luôn đặt doanh nghiệp trước những câu hỏi căn bản: Mình sẽ thay đổi ở đâu và thay đổi như thế nào?
Nếu giai đoạn 2021-2025 có thể xem là thời kỳ định hình thể chế và khung chính sách cho khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, thì năm 2026 được xem là năm đánh dấu bước chuyển quan trọng: từ nền tảng chính sách sang yêu cầu tạo ra kết quả đo đếm được. Và khi các cơ chế đã được “mở khóa”, đổi mới sáng tạo không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà trở thành kỷ luật quản trị mang tính sống còn.
Nguồn lực đã sẵn sàng
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 57) là “đột phá quan trọng hàng đầu”, với doanh nghiệp và người dân là trung tâm, là chủ thể và là động lực. Thông điệp này không chỉ mang tính định hướng. Nó đặt ra yêu cầu rất rõ: phải chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế sang tạo ra giá trị cụ thể cho nền kinh tế.
![]() |
| Năm 2026, đổi mới sáng tạo là kỷ luật sống còn của doanh nghiệp |
Cùng với đó, Luật Trí tuệ nhân tạo chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, lần đầu tiên tạo ra một hành lang pháp lý riêng cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI tại Việt Nam. Luật được thiết kế theo nguyên tắc “quản lý để phát triển”, yêu cầu minh bạch dữ liệu, giám sát con người trong các quyết định quan trọng và trách nhiệm giải trình của tổ chức triển khai.
Trong môi trường như vậy, tuân thủ không còn là chi phí hành chính, mà trở thành điều kiện để tham gia thị trường. Doanh nghiệp nào không chuẩn hóa dữ liệu, không xây dựng cơ chế kiểm soát rủi ro và không thiết lập quy trình quản trị AI rõ ràng sẽ khó tiếp cận các hợp đồng lớn, khó tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, thậm chí đối mặt với rủi ro pháp lý và danh tiếng.
Đổi mới sáng tạo vì thế được đặt vào vị trí của một chuẩn mực vận hành mới.
Những năm gần đây, Nhà nước không chỉ dừng ở tuyên bố chính sách. Theo định hướng phát triển giai đoạn mới, khoảng 3-4% tổng chi ngân sách hằng năm được dành cho khoa học - công nghệ - đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tổng nguồn lực xã hội huy động cho lĩnh vực này ước tính từ 10-15 tỷ USD; Mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số đóng góp ít nhất 30% GDP.
Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 đặt tham vọng đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu ASEAN và nằm trong nhóm khoảng 60 quốc gia hàng đầu thế giới về AI; hình thành ít nhất 5 thương hiệu AI có uy tín trong khu vực; xây dựng trung tâm dữ liệu lớn và hạ tầng tính toán hiệu năng cao.
Nguồn lực chính sách và tài chính đã được định hình tương đối rõ. Nhưng câu hỏi đặt ra không còn là Nhà nước có hỗ trợ hay không, mà là doanh nghiệp có đủ năng lực hấp thụ hay không - PGS.TS Ngô Trí Long -Chuyên gia kinh tế cho biết và nhấn mạnh: “Giai đoạn 2026-2030 sẽ là giai đoạn phân hóa rất mạnh. Doanh nghiệp nào coi đổi mới sáng tạo là chiến lược lõi và tổ chức lại bộ máy theo hướng dữ liệu - minh bạch - đo lường được sẽ đi lên. Doanh nghiệp chậm thích ứng sẽ tụt lại rất nhanh trong chuỗi giá trị.”
Trong kinh tế học phát triển, khoảng cách giữa chính sách và tăng trưởng thực tế thường nằm ở “năng lực thực thi” của khu vực doanh nghiệp. Một nền kinh tế có thể ban hành nhiều cơ chế ưu đãi, nhưng nếu doanh nghiệp không chuẩn hóa quản trị, không có đội ngũ nhân lực phù hợp và không tổ chức lại quy trình vận hành, nguồn lực sẽ khó chuyển hóa thành năng suất.
Sai lầm phổ biến của nhiều doanh nghiệp trong giai đoạn trước là đồng nhất đổi mới sáng tạo với đầu tư công nghệ. Mua phần mềm, triển khai hệ thống ERP, thử nghiệm AI trong một vài khâu - những việc đó có thể tạo cảm giác hiện đại hóa, nhưng chưa chắc tạo ra giá trị gia tăng thực sự.
Công nghệ chỉ là đòn bẩy. Điều quyết định là quản trị.
Về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long phân tích: “Chúng ta không thiếu công nghệ, cái thiếu là kỷ luật thực thi. Nếu không có hệ thống KPI rõ ràng, không có cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả, thì dù đầu tư bao nhiêu vào chuyển đổi số cũng khó tạo ra tăng trưởng thực chất.”
Khi Luật AI yêu cầu minh bạch dữ liệu và cơ chế giám sát con người, doanh nghiệp buộc phải thiết kế lại quy trình ra quyết định. Khi thị trường ngày càng coi trọng truy xuất nguồn gốc và bảo mật thông tin, doanh nghiệp buộc phải tổ chức lại hệ thống dữ liệu. Khi chi phí vốn tăng và cạnh tranh biên lợi nhuận ngày càng khốc liệt, doanh nghiệp buộc phải tối ưu chuỗi cung ứng và dòng tiền.
Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo phải đi thẳng vào những chỉ số cụ thể: năng suất lao động tăng bao nhiêu phần trăm, tỷ lệ lỗi giảm bao nhiêu, vòng quay tồn kho rút ngắn bao nhiêu ngày, chi phí logistics tiết kiệm được bao nhiêu. Nếu không đo lường được bằng kết quả tài chính và vận hành, đổi mới chỉ dừng ở bề nổi.
Ba trụ cột của giai đoạn mới vì vậy cần được nhìn nhận rõ ràng: công nghệ là nền tảng; quản trị là bộ khuếch đại; mô hình kinh doanh và văn hóa tổ chức là nơi tạo ra lợi nhuận và sức bền.
Một yếu tố thường bị xem nhẹ nhưng lại quyết định tốc độ chuyển đổi là văn hóa doanh nghiệp. Trong môi trường công nghệ thay đổi nhanh, tổ chức nào học nhanh - thử nhanh - sửa nhanh sẽ có lợi thế vượt trội. Văn hóa dám thử có kiểm soát cho phép doanh nghiệp triển khai thí điểm ở quy mô nhỏ, đo lường, điều chỉnh và nhân rộng. Văn hóa dữ liệu buộc nhà quản trị dựa trên bằng chứng thay vì cảm tính. Văn hóa an toàn tâm lý khuyến khích nhân viên đóng góp ý tưởng và phát hiện rủi ro sớm.
Nhà nước có thể đầu tư hạ tầng số, nhưng không thể thay doanh nghiệp xây dựng “hạ tầng mềm” này. Khi nhân lực chất lượng cao được thu hút thông qua các cơ chế đãi ngộ mới, bài toán không chỉ là giữ người giỏi, mà là tạo môi trường để người giỏi phát huy.
Trong chu kỳ cạnh tranh mới, công nghệ có thể mua được trên thị trường toàn cầu; văn hóa tổ chức thì không. Và chính sự khác biệt ở tầng văn hóa sẽ quyết định doanh nghiệp nào bứt phá, doanh nghiệp nào tụt lại.
Thương mại hóa là phép thử cuối cùng
Một nền kinh tế không thiếu ý tưởng. Điều khó nhất là biến ý tưởng thành sản phẩm có thị trường và quy mô.
Những điểm nghẽn quen thuộc là cơ chế sở hữu và chia sẻ lợi ích chưa linh hoạt, khoảng cách giữa viện - trường và doanh nghiệp, thiếu vốn cho giai đoạn thử nghiệm, thiếu hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ vẫn đang hiện diện. Tuy nhiên, khi khung pháp lý đã rõ ràng hơn và nguồn lực đã được bố trí mạnh mẽ hơn, trách nhiệm chuyển hóa sáng kiến thành doanh thu ngày càng đặt nặng lên vai doanh nghiệp.
Thước đo của giai đoạn mới không phải số lượng dự án đổi mới được công bố, mà là số sản phẩm có khả năng cạnh tranh quốc tế; không phải số hội thảo được tổ chức, mà là tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong chuỗi cung ứng; không phải mức độ “ứng dụng AI” trên truyền thông, mà là năng suất và biên lợi nhuận thực tế.
Bước vào năm 2026, doanh nghiệp Việt không còn đứng trước câu hỏi có nên đổi mới hay không. Câu hỏi đúng hơn là đổi mới ở đâu để tạo ra tác động lớn nhất, và tổ chức lại bộ máy như thế nào để đổi mới trở thành kỷ luật thường nhật.
Chu kỳ phát triển mới sẽ phân hóa mạnh mẽ. Những doanh nghiệp chủ động chuẩn hóa dữ liệu, đầu tư cho quản trị rủi ro, tái cấu trúc mô hình kinh doanh và xây dựng văn hóa học hỏi sẽ biến tuân thủ thành lợi thế cạnh tranh. Ngược lại, chậm thích ứng sẽ đồng nghĩa với chi phí pháp lý cao hơn, mất cơ hội thị trường và nguy cơ bị loại khỏi chuỗi giá trị.
Khi thể chế đã mở đường và nguồn lực đã được bố trí, phần còn lại phụ thuộc vào quyết tâm và năng lực nội tại của từng doanh nghiệp. Đổi mới sáng tạo không còn là khẩu hiệu trang trí, mà là kỷ luật vận hành. Và trong chu kỳ mới của nền kinh tế, kỷ luật đó chính là điều kiện để tồn tại và phát triển bền vững.
“Khi Nhà nước đã hoàn thiện dần thể chế và bố trí nguồn lực cho khoa học - công nghệ, thì trách nhiệm đổi mới thuộc về doanh nghiệp. Không thể trông chờ mãi vào chính sách; năng lực cạnh tranh cuối cùng vẫn nằm ở nội lực và quyết tâm thay đổi”- PGS.TS Ngô Trí Long cho hay.