| Giám đốc HSBC: Tỷ giá và lãi suất sẽ chịu sức ép lớn hơn trong nửa cuối 2026 Lãi suất ngân hàng ngày 19/8/2026: Nhiều ngân hàng niêm yết trên 5%/năm |
Lãi suất ngân hàng ngày 20/8/2026 tiếp tục duy trì sự phân hóa giữa các ngân hàng. Mặt bằng chung không biến động quá mạnh, nhưng khoảng cách giữa nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và một số ngân hàng cổ phần vẫn khá rõ, nhất là ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Tại nhóm Big4, Agribank đang niêm yết lãi suất tại quầy ở mức 2,6%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, 2,9% cho 3 tháng và 4% cho 6 tháng. Với kỳ hạn 12 tháng, mức lãi suất lên 5,9%/năm và 6% ở kỳ hạn 18-24 tháng. Đây vẫn là lựa chọn được nhiều khách hàng quan tâm nhờ quy mô và mạng lưới rộng.
![]() |
| Lãi suất ngân hàng ngày 20/8/2026 tiếp tục phân hóa giữa các nhà băng. |
BIDV có mặt bằng tương tự ở các kỳ hạn ngắn, với 2,1%/năm cho 1 tháng, 2,4% cho 3 tháng và 3,5% cho 6 tháng. Đến kỳ hạn 12 tháng, lãi suất tăng lên 5,9% và đạt 6%/năm ở kỳ hạn 18-24 tháng. So với nhóm ngân hàng cổ phần, mức này thấp hơn nhưng tương đối ổn định.
Trong khi đó, Vietcombank áp dụng 2,1%/năm cho tiền gửi 1 tháng, 2,4% cho 3 tháng và 3,5% cho 6 tháng. Kỳ hạn 12 và 18 tháng cùng ở mức 5,9%/năm, trong khi 24 tháng là 5,3%. Diễn biến này cho thấy ngân hàng vẫn giữ chính sách huy động tương đối thận trọng.
VietinBank cũng duy trì mặt bằng gần tương đồng. Lãi suất 1 tháng và 3 tháng lần lượt là 2,1% và 2,4%/năm; kỳ hạn 6 và 9 tháng cùng ở mức 3,5%. Với tiền gửi 12 tháng, lãi suất đạt 5,9%, trong khi kỳ hạn 18 và 24 tháng lên 6%/năm.
Ở nhóm ngân hàng cổ phần, mức lãi suất hấp dẫn hơn xuất hiện rõ tại các kỳ hạn dài. MB đang niêm yết 3,7%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, 4,1% cho 3 tháng và 4,6% cho 6-9 tháng. Đáng chú ý, lãi suất 12 và 18 tháng cùng ở mức 6,2%, trong khi kỳ hạn 24 tháng lên tới 7%/năm.
TPBank cũng duy trì mức lãi suất đáng chú ý ở nhóm kỳ hạn dài. Tiền gửi 1 và 3 tháng lần lượt ở mức 4,2%/năm, kỳ hạn 6-9 tháng là 5,5%, còn 12 và 18 tháng cùng 5,9%. Với kỳ hạn 24 tháng, lãi suất được ghi nhận ở mức 6%/năm.
Trong khi đó, VIB niêm yết 4,25%/năm cho kỳ hạn 1 tháng và 4,35% cho 3 tháng. Lãi suất 6 tháng ở mức 5,5%, 9 tháng 6,5%, còn 12 tháng là 5,7%. Với các khoản tiền gửi 18-24 tháng, mức lãi suất lần lượt khoảng 5,8%/năm.
SeABank có mặt bằng thấp hơn ở kỳ hạn ngắn khi lãi suất 1 tháng là 3,95% và 3 tháng 4,45%/năm. Từ 6 tháng, lãi suất tăng lên 4,75%, kỳ hạn 12 tháng đạt 5,1%, trong khi 18-24 tháng cùng ở mức 5,75%/năm.
Một trong những ngân hàng có mức lãi suất nổi bật hơn là Techcombank. Theo dữ liệu cập nhật tháng 8, nhà băng này niêm yết khoảng 4,15%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, 4,45% cho 3 tháng. Từ kỳ hạn 6 tháng, lãi suất tăng lên 7,05% và 7,25%/năm ở các kỳ hạn dài theo một số biểu lãi suất được tổng hợp.
MSB cũng nằm trong nhóm có mức huy động tương đối cao. Lãi suất kỳ hạn 1-3 tháng quanh 4,5-4,75%/năm, trong khi tiền gửi từ 6 tháng có thể đạt 6,4%. Các kỳ hạn 9-24 tháng được ghi nhận quanh 6,8%/năm trong biểu lãi suất cập nhật tháng 8.
Đáng chú ý, OCB đang có mức lãi suất thuộc nhóm cao ở nhiều kỳ hạn. Dữ liệu tháng 8 cho thấy lãi suất 6 tháng khoảng 6,7%, 9 tháng 7%, 12 tháng 7,2% và kỳ hạn 24 tháng có thể lên 7,6%/năm tại một số biểu lãi suất.
Nhìn chung, mặt bằng lãi suất ngân hàng ngày 20/8 cho thấy các ngân hàng vẫn tập trung thu hút nguồn tiền ổn định ở kỳ hạn trung và dài. Người gửi tiền vì vậy không nên chỉ nhìn vào mức lãi suất cao nhất, mà cần kiểm tra hình thức gửi tại quầy hay trực tuyến, số tiền tối thiểu, điều kiện áp dụng và cách tính lãi thực tế.
(Tổng hợp)