![]() |
| Giá thép hôm nay 7/7/2026: Giá thép và quặng sắt đồng loạt khởi sắc |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 7/7/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.120 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.120 đồng/kg. Cả 2 loại cùng giảm 310 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg. Cả 2 loại cùng giảm 410 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg, giảm 300 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg, giảm 310 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 7/7, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.063 CNY/tấn. |
Sau giai đoạn tăng nóng kéo dài từ tháng 3, thị trường phôi thép dẹt toàn cầu bước vào nhịp điều chỉnh trong tháng 6 vừa qua với mức giảm từ 20 - 30 USD/tấn. Tuy nhiên, bước sang phiên giao dịch đầu tuần này, cả giá thép lẫn quặng sắt kỳ hạn đều ghi nhận tín hiệu hồi phục nhẹ trở lại.
Tại thị trường Brazil, giá phôi dẹt xuất khẩu tham chiếu sụt 20 USD trong tháng 6, lùi về mức 580 USD/tấn (FOB) nhưng vẫn áp sát vùng đỉnh 2 năm qua nhờ bệ đỡ từ lực cầu nội địa. Đáng chú ý, lượng xuất khẩu tháng 5 của quốc gia này giảm mạnh 43% so với tháng 4 do các doanh nghiệp ưu tiên cung ứng trong nước để thay thế hàng Trung Quốc bị áp thuế chống bán phá giá. Theo tổ chức IAB, lượng bán bán thành phẩm nội địa tháng 5 tăng 33% so với tháng trước, giúp lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 3,5 triệu tấn, tăng 6% so với cùng kỳ.
Tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, giá FOB vùng Biển Đen duy trì ổn định ở mức 515 USD/tấn trong phần lớn tháng 6 trước khi giảm nhẹ vào cuối tháng do giá phế liệu đi xuống và sức tiêu thụ thép thanh yếu. Trong tháng 5, nước này nhập khẩu 370.000 tấn phôi dẹt, tăng 32% so với tháng 4, chủ yếu đến từ Nga và Malaysia. Dù vậy, các nhà máy đang ưu tiên tự chủ nguồn cung khi sản lượng nội địa 5 tháng đầu năm đạt 6,7 triệu tấn, tăng trưởng 20%.
Tại thị trường Châu Á, giá phôi Trung Quốc giao tại Indonesia giảm từ mức 530 – 535 USD/tấn xuống còn 510 - 515 USD/tấn (CFR) trong tháng 6. Đồng Rupiah mất giá khiến các nhà sản xuất tại đây phải chuyển hướng xuất khẩu sang khu vực Âu Mỹ để tìm kiếm biên lợi nhuận tốt hơn. Tại Nhật Bản, giá phôi bình quân cũng bốc hơi 30 USD trong tháng 6, xuống mốc 520 USD/tấn, đảo ngược hoàn toàn đà tăng của tháng trước đó.
Xu hướng giảm giá phôi dẹt tại khu vực châu Á trong suốt tháng 6 vừa qua phản ánh rõ rệt tình trạng suy yếu của tổng cầu trên phạm vi toàn cầu. Khảo sát thị trường cho thấy, các giao dịch xuất khẩu thời gian tới nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì trạng thái thưa thớt và trầm lắng.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những biến động bất ổn tại thị trường Liên minh châu Âu (EU). Đồng thời, thị trường nói chung đang rơi vào vùng trống thông tin, thiếu vắng các động lực hỗ trợ đủ mạnh để thúc đẩy một đợt đảo chiều bứt phá trong ngắn hạn.