![]() |
| Giá thép hôm nay 3/8/2026: Quặng sắt tiếp tục giảm, phôi thép thế giới suy yếu |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h30 ngày 3/8/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.120 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.120 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h30 (giờ Việt Nam) ngày 3/8, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 2.998 CNY/tấn. |
Thị trường thép và nguyên liệu đầu vào mở màn tuần mới ngày 3/8 trong sắc đỏ bao phủ. Ghi nhận trên Sàn Thượng Hải (SHFE), hợp đồng thép thanh giao tháng 9/2026 mất 0,70% (giảm 21 Nhân dân tệ), xuống còn 2.972 Nhân dân tệ/tấn. Cùng chiều, quặng sắt kỳ hạn tháng 9 trên Sàn Đại Liên (DCE) mất 2,85% (giảm 20,5 Nhân dân tệ), lùi về 698 Nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore (SGX), quặng sắt giao tháng 9 cũng giảm nhẹ 0,90% (tương đương 0,85 USD), xuống 93,50 USD/tấn.
Xu hướng đi xuống này nối tiếp bức tranh tương đối ảm đạm của tháng 7, thời điểm giá phôi vuông toàn cầu hạ bình quân 10 USD/tấn. Nhìn lại diễn biến tháng qua, thị trường sụt giảm mạnh nửa đầu tháng do sức mua đóng đóng băng, sau đó đi ngang nhờ tâm lý giao dịch ấm lại và dòng vốn Trung Quốc bắt đáy nguyên liệu. Đến cuối tháng, giá niêm yết nhìn chung ổn định, ngoại trừ khu vực Trung Đông - Bắc Phi (MENA) tăng nhẹ nhờ đà đi lên của thép phế.
Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận giá phôi vuông xuất xưởng đi ngược dòng khi tăng 8 USD/tấn trong tháng 7, đạt 543 USD/tấn. Đà tăng này xuất phát từ việc ông lớn Kardemir nâng giá bán, chi phí phế liệu nhập khẩu leo thang cùng chính sách bắt buộc dùng tối thiểu 25% phôi nội địa để sản xuất thép cán xuất khẩu. Dù vậy, áp lực cạnh tranh vẫn rất lớn khi phôi Ấn Độ chào bán chỉ 510 USD/tấn CFR (thấp hơn hàng Trung Quốc ở mức 515 - 520 USD/tấn CFR). Trái lại, phôi Biển Đen (FOB) hạ 5 USD/tấn xuống 468 USD/tấn do cầu yếu. Nhiều đơn vị sản xuất tại Nga đã thu hẹp xuất khẩu để về làm thị trường nội địa khi cước tàu sang Thổ Nhĩ Kỳ vọt lên 30 - 35 USD/tấn và phí bảo hiểm Biển Đen chạm ngưỡng 10 - 15 USD/tấn.
Đông Nam Á (ASEAN) chứng kiến giá phôi nhập khẩu từ Trung Quốc và các nhà máy trong khu vực giảm nhẹ. Mức giá CFR tới Manila/Jakarta lùi từ 490 - 495 USD/tấn về 485 USD/tấn cuối tháng 7; giá FOB chào bán từ Trung Quốc cũng hạ xuống 460 - 462 USD/tấn. Cước vận tải đi Manila hạ còn 17 - 20 USD/tấn kết hợp với đà lao dốc trên sàn Thượng Hải đã kích thích lực mua phôi giá rẻ từ Thái Lan và Philippines.
Tại Trung Quốc, giá phôi giao ngay ở Đường Sơn dao động hẹp trong khoảng 3.000 - 3.035 Nhân dân tệ/tấn (khoảng 443 - 447 USD/tấn). Dù chịu sức ép từ thị trường tương lai, giá bán vẫn giữ được nền nhờ chi phí sản xuất cao, tồn kho hạ đều và thương nhân hạn chế xả hàng cắt lỗ.
Tại Vịnh Ba Tư, nhu cầu thép thanh thành phẩm yếu cùng rào cản vận chuyển khiến giá phôi vuông bình quân sụt 10 USD/tấn trong tháng 7, lùi về 508 USD/tấn (CFR).
Sự trầm lắng của ngành thép toàn cầu được dự báo sẽ còn kéo dài trong ngắn hạn khi dòng tiền giao dịch thực tế chưa có tín hiệu bứt phá. Việc các hợp đồng tương lai liên tục đỏ sàn ngay đầu tháng 8 cho thấy thái độ cực kỳ thận trọng của giới đầu tư.
Áp lực điều chỉnh giá vẫn sẽ đè nặng lên các thị trường hướng về xuất khẩu như ASEAN hay Vịnh Ba Tư do sức tiêu thụ thành phẩm chưa cải thiện. Tuy nhiên, đà giảm sâu của giá phôi sẽ gặp lực cản mạnh nhờ chi phí đầu vào duy trì ở mức cao, lượng kho bãi ở mức thấp và các nhà máy chủ động thắt chặt sản lượng để cắt lỗ. Hướng đi sắp tới của thị trường phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả từ các gói kích cầu kinh tế của Trung Quốc cũng như sự biến động giá của nguyên liệu thép phế.