![]() |
| Giá thép hôm nay 18/8/2026: Quặng sắt sát đáy 14 tháng vì tín dụng Trung Quốc giảm sâu |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 18/8/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.120 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.120 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 18/8, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.009 CNY/tấn. |
Áp lực xả hàng đè nặng lên thị trường nguyên liệu thép phiên 17/8 khi nguồn cung tín dụng tại Trung Quốc thu hẹp mạnh. Giá quặng sắt giao tháng 9 trên sàn SGX hạ 0,64% xuống 95,35 USD/tấn, trong khi hợp đồng tương tự trên sàn Đại Liên (DCE) lùi 0,55% về mức 721,5 nhân dân tệ/tấn. Đáng chú ý, hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 1 trên sàn DCE giảm xuống 706,5 nhân dân tệ/tấn, kéo mặt hàng này tiến sát ngưỡng 700 nhân dân tệ, tiệm cận mức thấp nhất 14 tháng.
Nguyên nhân cốt lõi đến từ dữ liệu của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, ghi nhận dư nợ tín dụng bằng đồng nhân dân tệ tháng 7 bốc hơi 340 tỷ nhân dân tệ. Đây là đợt sụt giảm dư nợ mạnh nhất lịch sử, phản ánh nhu cầu vay vốn suy yếu rõ rệt ở khối hộ gia đình cùng yếu tố mùa vụ.
Mặc dù vậy, mức giảm phần nào được hãm lại nhờ nhịp hồi phục của hoạt động sản xuất. Thống kê từ Mysteel chỉ ra tỷ lệ vận hành lò cao tại 247 nhà máy thép đã nhích thêm 0,32 điểm phần trăm lên 82,64%. Bên cạnh đó, Tập đoàn Thu mua Quặng sắt Quốc gia Trung Quốc được cho là đã chốt hợp đồng cung ứng dài hạn với Anglo American, trong khi tồn kho dòng quặng phẩm cấp thấp của Fortescue tại các cảng chạm đỉnh 5 tuần do lệnh cấm vận hành.
Tại nhóm mặt hàng liên quan trên sàn DCE, than luyện cốc và than cốc duy trì sắc xanh nhẹ lần lượt 0,74% và 0,45%. Trên sàn Thượng Hải (SHFE), giá thép thanh giao tháng 9/2026 tăng 0,10% lên 2.987 nhân dân tệ/tấn. Các dòng sản phẩm khác như thép cuộn cán nóng, thép dây và thép không gỉ đồng loạt nhích tăng trong khoảng 0,28% - 0,43%.
Lĩnh vực bất động sản và hạ tầng Trung Quốc vốn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Việc dòng vốn thu hẹp kỷ lục sẽ tạo áp lực đè nặng lên sức tiêu thụ quặng sắt và kìm hãm đà phục hồi của giá thép ngắn hạn.
Dù các nhà máy đang nỗ lực duy trì công suất lò cao, thị trường vẫn cần những gói kích thích kinh tế đủ mạnh từ Bắc Kinh để tháo gỡ bài toán lực cầu yếu, tạo nền tảng cho giá thép bước vào chu kỳ tăng bền vững.