![]() |
| Giá thép hôm nay 14/8/2026: Thị trường thế giới nhích nhẹ nhờ cước vận tải biển |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h00 ngày 13/8/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.120 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.120 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h00 (giờ Việt Nam) ngày 14/8, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.016 CNY/tấn. |
Thị trường thép cùng nguyên liệu sản xuất toàn cầu trải qua phiên 13/8 trong trạng thái giằng co biên độ hẹp. Biên lợi nhuận tại một số cơ sở chế biến Trung Quốc có dấu hiệu phục hồi nhẹ, giúp hạ nhiệt áp lực xả kho nguyên liệu. Đồng thời, mặt bằng cước tàu biển neo ở mức cao trở thành điểm tựa quan trọng giữ giá quặng sắt giao tới cảng. Chốt phiên, hợp đồng thép thanh giao tháng 9/2026 trên Sàn Thượng Hải tăng 15 Nhân dân tệ (0,48%), đạt 3.120 Nhân dân tệ/tấn. Cùng thời điểm trên Sàn Singapore, quặng sắt cùng kỳ hạn nhích 0,30 USD (0,31%), lên 95,90 USD/tấn. Trái lại, giá quặng sắt tháng 9 trên Sàn Đại Liên giảm nhẹ 1 Nhân dân tệ (-0,13%), lùi về 747,0 Nhân dân tệ/tấn và tiệm cận đáy 14 tháng.
Đà hạ nhiệt của quặng sắt chủ yếu do tốc độ phục hồi kinh tế tại Trung Quốc còn chậm. Ngành hải quan nước này ghi nhận lượng quặng sắt nhập khẩu tháng 7 đạt 108,086 triệu tấn, giảm 4,09% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 3,5% so với cùng kỳ 2025. Việc chỉ số CPI và PPI tăng trưởng khiêm tốn phản ánh sức tiêu thụ trong nước chưa có bước tiến rõ rệt. Dù vậy, sản lượng quặng khai thác nội địa nửa đầu năm 2026 của Trung Quốc giảm 7% bởi chất lượng quặng suy giảm cùng chi phí vận hành tăng. Thực trạng này đẩy tỷ trọng quặng nhập khẩu ròng lên mức 57% tổng nguồn cung, vượt xa con số 50% của năm 2022.
Điểm đáng chú ý là dù tổng lượng thép sản xuất 6 tháng đầu năm giảm 3%, khối lượng quặng nhập khẩu ròng vẫn tăng 6% so với cùng kỳ. Úc (tăng 4%) và Brazil (tăng 6%) tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi cung ứng 83% tổng lượng nhập khẩu. Bên cạnh đó, việc mở rộng nguồn cung từ các quốc gia xa địa lý như Guinea (dự án Simandou dự kiến xuất 20 triệu tấn năm 2026), Liberia (tăng 15 triệu tấn) và Peru làm kéo dài đáng kể lộ trình vận chuyển. Sự dịch chuyển này thúc đẩy nhu cầu tàu hàng rời Capesize chở quặng sang Trung Quốc tăng 9%, đẩy chỉ số cước Platts Capesize T4 bứt phá tới 79% so với cùng kỳ.
Ở chặng ngắn hạn, giá thép cùng quặng sắt nhiều khả năng tiếp tục tích lũy và dao động trong dải hẹp. Dù gánh nặng tài chính tại các nhà máy chế biến đã dịu bớt, cầu tiêu thụ yếu từ nội địa Trung Quốc vẫn là lực cản lớn cho một đà tăng bứt phá. Nhìn chung, mảng xây dựng và sản xuất của thị trường này đòi hỏi thêm thời gian để gầy dựng lại động lực.
Dẫu vậy, thị trường vẫn sở hữu nền tảng hỗ trợ khá vững chắc từ chi phí đầu vào. Cước vận tải biển duy trì mức cao do tuyến đường kéo dài sẽ tạo áp lực tăng lên giá quặng giao tại cảng. Ngoài ra, việc Trung Quốc ngày càng phụ thuộc nguồn cung bên ngoài do sản lượng nội địa sụt giảm sẽ tiếp tục thiết lập vùng giá sàn tương đối vững chắc cho thị trường thép thời gian tới.