Bộ Tư pháp vừa công bố dự thảo hồ sơ chính sách Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) do Bộ Y tế chủ trì xây dựng. Sau 15 năm thực thi, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 được đánh giá đã góp phần quan trọng trong quản lý lĩnh vực này, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt trong tổ chức bộ máy và phân công trách nhiệm.
![]() |
Bất cập từ mô hình quản lý phân tán
Theo quy định hiện hành, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được phân công cho ba bộ gồm Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương, dựa trên chuỗi cung ứng và nhóm ngành hàng.
Cụ thể, ngành y tế quản lý 6 trong tổng số 33 nhóm sản phẩm; ngành nông nghiệp và môi trường phụ trách 19 nhóm; ngành công thương đảm nhiệm 8 nhóm còn lại. Mô hình này từng giúp tận dụng chuyên môn của từng lĩnh vực, nhưng trên thực tế lại phát sinh nhiều điểm chồng chéo.
Không ít sản phẩm nằm ở “vùng giao thoa” giữa các bộ, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục hành chính, trong khi cơ quan quản lý cũng lúng túng trong xác định thẩm quyền. Ngay cả khi đã triển khai liên thông dữ liệu, việc phối hợp vẫn mất nhiều thời gian, chưa đáp ứng kịp yêu cầu xử lý các vấn đề nóng về an toàn thực phẩm.
Đặc biệt, khi xảy ra sự cố quy mô lớn, việc truy xuất nguồn gốc thực phẩm từ khâu sản xuất đến tiêu thụ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan. Tuy nhiên, do thiếu đầu mối thống nhất, quá trình điều phối đôi khi chưa kịp thời, làm giảm hiệu quả xử lý.
Khoảng trống ở cấp cơ sở
Không chỉ ở cấp trung ương, công tác quản lý tại địa phương cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Theo Bộ Y tế, lực lượng làm công tác an toàn thực phẩm chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu nhân sự chuyên trách, trong khi số lượng cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, phân tán rất lớn.
Đáng chú ý, ở cấp xã gần như chưa có đội ngũ chuyên trách về an toàn thực phẩm. Điều này khiến công tác kiểm tra, giám sát gặp nhiều khó khăn, đồng thời gây phiền hà cho doanh nghiệp khi phải thực hiện thủ tục qua nhiều cơ quan khác nhau.
Ở góc độ người dân, việc phản ánh vi phạm hoặc tìm kiếm thông tin liên quan đến thực phẩm bẩn cũng gặp trở ngại do không xác định được cơ quan đầu mối tiếp nhận, xử lý.
Nhằm khắc phục triệt để những tồn tại nêu trên, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) định hướng xây dựng hệ thống quản lý theo mô hình một đầu mối xuyên suốt từ trung ương đến địa phương.
Theo đề xuất của Bộ Y tế, sẽ có một cơ quan quản lý an toàn thực phẩm cấp trung ương trực thuộc Bộ Y tế, chịu trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ chịu trách nhiệm toàn diện và có thể thành lập Sở An toàn thực phẩm trên cơ sở sáp nhập chức năng, nhiệm vụ và nhân sự từ các sở liên quan như y tế, nông nghiệp và môi trường, công thương; hoặc giao đơn vị chuyên trách trực thuộc Sở Y tế đảm nhiệm.
Ở cấp cơ sở, đề xuất thành lập các đội an toàn thực phẩm trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã nhằm trực tiếp kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Thực tiễn từ Thành phố Hồ Chí Minh
Thực tế cho thấy mô hình quản lý tập trung đã bước đầu phát huy hiệu quả tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau thời gian thí điểm Ban Quản lý An toàn thực phẩm, từ ngày 1/1/2024, thành phố đã chính thức đưa Sở An toàn thực phẩm vào hoạt động.
Theo báo cáo, mô hình này giúp giảm đáng kể tình trạng chồng chéo trong thanh tra, kiểm tra; doanh nghiệp không còn phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra cho cùng một nội dung trong năm. Đồng thời, tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính đúng hạn đạt tới 99,99%, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong cải cách hành chính.
Bộ Y tế nhận định, việc tổ chức lại bộ máy theo hướng một đầu mối sẽ tạo nền tảng để chuyển từ tư duy “kiểm soát từng khâu” sang “quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm”.
Cách tiếp cận này không chỉ giúp nâng cao năng lực phòng ngừa mà còn tăng khả năng phản ứng nhanh khi xảy ra sự cố, như các vụ ngộ độc thực phẩm, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi và sức khỏe của người tiêu dùng.