Trung tâm dữ liệu đang trở thành một loại hình hạ tầng mà ở đó các nhà đầu tư không thể chỉ nhìn vào quỹ đất. Điện phải đủ, đường truyền phải mạnh, dữ liệu phải an toàn và nguồn nhân lực phải theo kịp tốc độ vận hành là những điều kiện song hành.
TP. Hồ Chí Minh hiện có 20 trung tâm dữ liệu và 9 dự án đang được đề xuất. Nhiều dự án có tổng vốn lên tới hàng tỷ USD, tập trung vào AI, dữ liệu, điện toán đám mây và các ứng dụng công nghệ quy mô lớn.
![]() |
| Trung tâm dữ liệu là một căn phòng, tòa nhà hoặc cơ sở vật lý chứa đựng cơ sở hạ tầng CNTT nhằm mục đích xây dựng, triển khai và phân phối ứng dụng, dịch vụ, đồng thời lưu trữ và quản lý dữ liệu liên quan đến những ứng dụng, dịch vụ đó. |
Tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung, Củ Chi, trung tâm dữ liệu quy mô siêu lớn của Viettel đang được triển khai trong bức tranh đầu tư mới. Cùng khu vực này còn có SGI-HCM Campus, dự án khu phức hợp trung tâm dữ liệu và AI do Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC) hợp tác với Accelerated Infrastructure Capital (AIC) và VietinBank, với tổng vốn gần 2 tỷ USD.
Nhưng Củ Chi không phải nơi duy nhất được nhà đầu tư công nghệ chú ý.
Tại Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, liên danh BW Industrial Development JSC, Warburg Pincus và Digital Realty đề xuất phát triển trung tâm dữ liệu. Sembcorp-BB Holding cũng đề xuất dự án khoảng 850 triệu USD, với tổng công suất dự kiến 800 MW.
NTT Global Data Centers cùng đối tác QD.TEK nghiên cứu phát triển hạ tầng phục vụ cloud, hybrid cloud và các ứng dụng dữ liệu quy mô lớn.
Một số dự án khác có quy mô vốn dự kiến hàng tỷ USD cũng đang được đề xuất. Trong đó, siêu trung tâm dữ liệu AI của Tập đoàn G42 (UAE) dự kiến khoảng 2 tỷ USD; Trung tâm dữ liệu - Digital Hub của Tập đoàn DCH khoảng 1,2 tỷ USD tại phường Tân Thành; SAM DigitalHub của Saigon Asset Management (SAM) khoảng 1,5 tỷ USD, tập trung vào AI, dữ liệu và hạ tầng số.
Các đề xuất cũng đang được nghiên cứu tại khu vực Bình Dương cũ.
Sự xuất hiện của nhiều dự án ở những khu vực khác nhau cho thấy bài toán đang chuyển từ “có đất để làm dự án” sang “có đủ điều kiện để vận hành một hạ tầng số lớn”.
Có thể khẳng định ngay rằng với trung tâm dữ liệu, điện là một trong những biến số đầu tiên nhà đầu tư phải tính toán. Công suất lớn đồng nghĩa nhu cầu sử dụng điện rất cao. Nguồn điện không chỉ cần ổn định mà còn phải đáp ứng xu hướng sử dụng năng lượng xanh ngày càng rõ trong ngành công nghệ.
Đây là lý do những lợi thế về năng lượng, hạ tầng công nghiệp và logistics đang được đặt cùng với lợi thế công nghệ khi TP. Hồ Chí Minh cạnh tranh thu hút dòng vốn mới.
Một lợi thế khác nằm ở khả năng kết nối internet quốc tế thông qua hệ thống cáp quang biển.
Đối với các doanh nghiệp vận hành cloud, AI và các nền tảng dữ liệu lớn, tốc độ kết nối và khả năng duy trì dịch vụ liên tục có ý nghĩa trực tiếp với hiệu quả kinh doanh. Trung tâm dữ liệu không thể hoạt động tách rời khỏi hệ thống viễn thông, năng lượng và các dịch vụ công nghệ đi kèm.
![]() |
| Ông Lê Văn Thăng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh. |
Thị trường cũng đang tạo thêm nhu cầu. Doanh nghiệp công nghệ, thương mại điện tử, tài chính - ngân hàng ngày càng sử dụng nhiều dữ liệu hơn. Khi lượng dữ liệu tăng, nhu cầu lưu trữ, xử lý và bảo vệ dữ liệu cũng tăng theo.
Hành lang pháp lý mới tạo thêm dư địa cho thị trường khi nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu 100% vốn đối với dịch vụ trung tâm dữ liệu theo Luật Viễn thông.
Thông tin với báo chí, ông Lê Văn Thăng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, cho biết thành phố đang chuyển mạnh sang thu hút FDI thế hệ mới thông qua các trung tâm dữ liệu, qua đó hình thành hạ tầng số và thúc đẩy kinh tế số, đồng thời hỗ trợ mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Dòng vốn lớn đang mở ra cơ hội, nhưng cũng kéo theo những yêu cầu không nhỏ đối với hạ tầng đô thị và năng lực quản lý.
Một trung tâm dữ liệu quy mô lớn có thể cần lượng điện rất cao. Vì vậy, khả năng cung ứng điện ổn định và ngày càng xanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư cũng như khả năng mở rộng dự án.
Bên cạnh điện là truyền dữ liệu xuyên biên giới, an toàn thông tin, an ninh mạng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo ông Thăng, những vấn đề này có thể được giải quyết trong phạm vi thẩm quyền và khả năng của thành phố. Các dự án G42 và Tân Phú Trung là những trường hợp cho thấy cam kết đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư.
Song song với triển khai dự án, Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với các cơ quan chuyên môn nghiên cứu công nghệ mới, kiểm soát rủi ro về an toàn thông tin, an ninh mạng và chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ vận hành trung tâm dữ liệu.
Ông Thăng cũng cho rằng thực tiễn đặt ra yêu cầu phải thúc đẩy thương mại hóa và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế. Thành phố đang hướng tới tư duy “đầu tư cho giá trị tạo ra từ nghiên cứu”, lấy hiệu quả thị trường làm thước đo.
Đây là phần việc quan trọng nếu TP. Hồ Chí Minh muốn biến các dự án trung tâm dữ liệu thành một hệ sinh thái công nghệ thay vì chỉ có những công trình lưu trữ và xử lý dữ liệu.
Không gian đầu tư mới đang trải rộng từ Khu Công nghệ cao, Củ Chi đến Bình Dương cũ và dự kiến mở rộng sang Bà Rịa - Vũng Tàu cũ.
![]() |
| Hệ sinh thái công nghệ (Technology Ecosystem) là một tập hợp các sản phẩm, dịch vụ, phần mềm và phần cứng được thiết kế để hoạt động liền mạch với nhau nhằm mang lại trải nghiệm nhất quán và tiện lợi cho người dùng. Ảnh minh họa: https://ocd.vn |
Cách phân bổ này tạo điều kiện kết nối trung tâm dữ liệu với các khu công nghiệp, nguồn năng lượng, cảng biển và mạng lưới logistics trong không gian kinh tế mới của TP. Hồ Chí Minh.
Nếu các điều kiện về điện, kết nối, pháp lý và nhân lực được giải quyết đồng bộ, giá trị của dòng vốn trung tâm dữ liệu sẽ không chỉ nằm ở số vốn đăng ký. Quan trọng hơn là khả năng tạo ra hạ tầng nền cho AI, bán dẫn, tài chính, thương mại điện tử và công nghiệp công nghệ cao.
Khi đó, cuộc cạnh tranh thu hút FDI sẽ không còn chủ yếu xoay quanh đất đai hay chi phí lao động. Những thứ nhà đầu tư phải nhìn vào sẽ là năng lượng, dữ liệu, công nghệ, khả năng kết nối và chất lượng nhân lực.
Với TP. Hồ Chí Minh, đây cũng là phép thử cho khả năng biến một dòng vốn công nghệ quy mô lớn thành năng lực sản xuất và kinh doanh mới của nền kinh tế.