Thứ năm 26/02/2026 16:46
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Bất cập trong các quy định về phương thức tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

12/10/2020 00:00
Vấn đề phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện nay được điều chỉnh bởi nghị định số 154/2016/NĐ-CP. Sau một thời gian áp dụng, bên cạnh những mặt tích cực, Nghị định này đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định về cách tính phí cố định

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet

Về mức phí và lưu lượng nước thải tính phí

Theo Nghị định, quy định mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với các cơ sở có lượng nước thải trung bình một năm dưới 20m3/ngày đêm được áp dụng cho tất cả các ngành nghề đang bị coi là chưa hợp lý với một số đối tượng.

Cơ sở sản xuất chế biến có tổng nước thải dưới 20m3/ ngày đêm không áp dụng mức phí biến đổi. Thực tế cho thấy một số cơ sở sản xuất trong những lĩnh vực ngành nghề đặc thù sử dụng lưu lượng nước rất ít, dưới 1m3/ngày đêm hoặc thậm chí chưa đến 10m3/tháng như cơ khí, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng, đá chẻ… hoặc có những cơ sở sản xuất gần như không sử dụng nước trong hoạt động sản xuất như may mặc mà không dệt nhuộm, thạch cao… Việc thu phí cơ sở này bị phản đối dựa trên lập luận rằng quy định thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với tất cả các ngành nghề là không công bằng, bởi không thể đánh đồng giữa cơ sở sản xuất chỉ sử dụng 1m3/ngày đêm với cơ sở sản xuất 20m3/ngày đêm. Các cơ sở sản xuất không sử dụng nước như may mặc, thạch cao… phản đối vì cho rằng không sử dụng nước cho việc sản xuất thì không phải chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. Một số cơ sở chấp nhận đóng phí nhưng yêu cầu mức hợp lí vì họ chỉ sản xuất dưới quy mô hộ gia đình nên mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm là quá cao.

Trong trường hợp một số hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất (2 đến 3 cơ sở) cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít (như cơ khí, may mặc,…) nhiều địa phương lúng túng giữa phương án chỉ thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với hộ gia đình/ năm hay thu phí cố định dựa trên cơ sở sản xuất của hộ gia đình. Để tránh thất thu ngân sách, nhiều địa phương chọn phương án thu dựa trên số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình và bị phản đối. Để việc thu phí được thống nhất, việc quy định rõ về đối tượng chịu phí là hết sức cần thiết. Nhưng Nghị định lại không quy định rõ mức phí cố định 1.500.000đồng/năm thu theo hộ gia đình sản xuất hay thu theo số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình.

Việc quy định về tính phí biến đổi cho các cơ sở sản xuất có lượng nước thải từ 20m3/ngày đêm trở lên theo Nghị định là không phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này. Hiện nay, các cơ sở sản xuất ở Việt nam chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ, tải lượng nước thải không cao. Với mức 20m3/ngày đêm mới tính đến phí biến đổi sẽ dẫn đến tình trạng số lượng cơ sở sản xuất phải đóng phí biến đổi là rất thấp. Nguồn thu cho công tác BVMT từ phí nước tải công nghiệp bị giảm sút đáng kể, không đủ bù đắp chi phí cho hoạt động BVMT.

Về thông số ô nhiễm tính phí

Trong Nghị định có quy định thu phí BVMT đối với 6 chất gây ô nhiễm COD, TSS, Hg, Bp, As, và Cd… Trong thực tế, quy định trên đã tạo áp lực và khó khăn nhất định bởi điều kiện về nguồn lực và phương tiện phân tích thông số ô nhiễm của các địa phương còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được việc thu phí với nhiều chất gây ô nhiễm.

Việc quy định thu phí BVMT đối với 4 loại kim loại nặng cho tất cả các ngành nghề cũnglà bất hợp lý. Bởi, mỗi loại hình sản xuất công nghiệp có một đặc thù riêng, công nghệ sản xuất đa dạng nên việc phát thải gây ô nhiễm khác nhau, không phải ngành sản xuất công nghiệp nào cũng phát sinh nước thải chứa 4 kim loại nặng. Mặt khác, chi phí lấy mẫu, phân tích hàm lượng thông số ô nhiễm thậm chí cao hơn số phí thu được từ cơ sở sản xuất.

Chi phí lấy mẫu tốn kém nên nhiều địa phương chỉ tiến hành lấy mẫu phân tích thông số ô nhiễm theo xác xuất. Việc xác định thông số ô nhiễm tính phí chủ yếu dựa vào việc kê khai của cơ sở sản xuất nên nhiều cơ sở sản xuất kê khai không trung thực, dẫn đến xác định phí không chính xác. Điều này làm giảm hiệu lực và hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường của phí BVMT. Do đó, việc xác định thông số ô nhiễm tính phí cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay cũng như đặc thù phát thải của ngành nghề sản xuất công nghiệp.

Từ những phân tích trên, để giải quyết các bất cập, cần sửa đổi bổ sung một số quy định trong Nghị định. Cụ thể: về phí cố định và lưu lượng nước thải tính phí cố định. Đối với mức phí cố định đối với nước thải công nghiệp hiện nay là 1.500.000 đồng, cần điều chỉnh sau mỗi chu kỳ 5 năm để phù hợp với sự biến động của môi trường và các điều kiện kinh tế, xã hội. Đối với lưu lượng nước thải để tính phí cố định, cần chia nhỏ mức lưu lượng nước thải tính phí cố định phù hợp với các mốc lưu lượng nước thải xử lí vi phạm hành chính.

Về phí biến đổi, ngoài việc tính phí cố định theo hệ số như đã nêu, thu phí biến đổi với mức xả thải từ 5m3/ngày đêm trở lên sẽ có tác dụng điều chỉnh hành vi của cơ sở sản xuất theo hướng có lợi cho môi trường, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho BVMT và đồng thời tạo sự công bằng trong việc thu phí giữa các cơ sở sản xuất. Cần điều chỉnh tăng dần mức phí biến đổi sau mỗi chu kì khoảng 5 năm. Không nên điều chỉnh mức phí theo mức lạm phát vì khó thực hiện và thường gây ảnh hưởng tiêu cực về mặt chính sách. Cách điều chỉnh hiệu quả là áp dụng hệ thống tự điều chỉnh mức phí hàng năm theo chỉ số giá tiêu dùng. Điều này sẽ hạn chế được ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quả của việc áp dụng phí BVMT.

Đối với trường hợp một hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít thì chỉ nên thu phí đối với hộ gia đình. Lưu lượng nước thải tính phí cố định và phí biến đổi là tổng lượng nước thải của các cơ sở sản xuất của hộ gia đình. Quy định này vừa có tính khuyến khích hộ gia đình làm kinh tế, vừa đảm bảo được sự công bằng trong việc thu phí giữa các chủ thể.

Đối với thông số ô nhiễm tính phí, qua thực tế thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP trong 10 năm cho thấy, rất nhiều địa phương đã không thu được phí BVMT đối với các thông số kim loại nặng có trong nước thải, gây thất thu ngân sách nhà nước bởi rất nhiều nguyên nhân. Ví dụ, năng lực quan trắc thông số ô nhiễm kim loại nặng tại các địa phương còn nhiều hạn chế, chi phí phân tích cao, thậm chí chi phí phân tích kim loại nặng cao hơn so với số phí nước thải công nghiệp thu được; Hoặc quy định tính phí theo hàm lượng các thông số kim loại nặng trong nước thải áp dụng đối với mọi đối tượng không đảm bảo tính công bằng giữa các loại hình sản xuất công nghiệp, không phân loại được các nhóm ngành phát sinh nước thải tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, gây tốn kém, phức tạp cho doanh nghiệp của một số ngành sản xuất như thực phẩm, dệt may...

Từ thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải công nghiệp tại Việt Nam cũng như dựa vào đặc thù xả thải của tất cả các ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2009, chỉ nên áp dụng phí BVMT cho 02 chỉ tiêu ô nhiễm là COD, TSS và 01 kim loại nặng có nồng độ cao nhất trong nước thải. Vì đây là các chất gây ô nhiễm hiện diện trong nước thải của tất cả các ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn, việc tính phí đối với kim loại nặng cũng cần thiết vì đây là một trong những tác nhân gây ô nhiễm nặng cho môi trường. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện Việt Nam, trong giai đoạn này chỉ nên tính phí đối với 01 kim loại nặng có nồng độ cao nhất.

Lê Thị Thu Hằng

Tin bài khác
Nửa đầu tháng 2/2026: Xuất nhập khẩu vượt 41,6 tỷ USD, nhập siêu gần 1 tỷ USD

Nửa đầu tháng 2/2026: Xuất nhập khẩu vượt 41,6 tỷ USD, nhập siêu gần 1 tỷ USD

Trong 15 ngày đầu tháng 2/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 41,67 tỷ USD, tăng hơn 31% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến nhập khẩu tăng mạnh theo chu kỳ sản xuất sau Tết khiến cán cân thương mại tạm thời nhập siêu khoảng 948 triệu USD.
Thị trường EU và Anh giảm cầu, doanh nghiệp Việt xoay trục ra sao để giữ mục tiêu 550 tỷ USD?

Thị trường EU và Anh giảm cầu, doanh nghiệp Việt xoay trục ra sao để giữ mục tiêu 550 tỷ USD?

Nhu cầu nhập khẩu tại EU và Anh suy yếu nhiều quý liên tiếp đang tạo thêm áp lực cho xuất khẩu Việt Nam, trong bối cảnh năm 2026, năm bản lề của giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi phải chuyển mạnh sang tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực tự chủ.
Thủ tướng Chính phủ chủ trì phiên họp đầu năm về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và Đề án 06

Thủ tướng Chính phủ chủ trì phiên họp đầu năm về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và Đề án 06

Chiều 25/2, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính – Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 – chủ trì phiên họp lần thứ nhất năm 2026, đánh giá kết quả triển khai thời gian qua và đề ra nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong giai đoạn tới.
Thí điểm thuê CEO doanh nghiệp nhà nước

Thí điểm thuê CEO doanh nghiệp nhà nước

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu nghiên cứu cơ chế thí điểm thuê tổng giám đốc (CEO) doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thay vì chỉ bổ nhiệm cán bộ theo quy hoạch như hiện nay.
Hà Nội đặt mục tiêu có 1–3 doanh nghiệp vào Top 500 Đông Nam Á

Hà Nội đặt mục tiêu có 1–3 doanh nghiệp vào Top 500 Đông Nam Á

Hà Nội đang đồng thời triển khai các chương trình hành động thực hiện loạt nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, với những mục tiêu cụ thể, có tính đột phá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và phát triển kinh tế nhà nước.
Giữa năm 2026 sẽ đề xuất phương án tăng lương tối thiểu mới

Giữa năm 2026 sẽ đề xuất phương án tăng lương tối thiểu mới

Tổ chức Công đoàn dự kiến xây dựng và trình phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng mới trong tháng 5–6/2026, làm cơ sở tham gia đàm phán tại Hội đồng Tiền lương Quốc gia.
Lần đầu xác lập đầy đủ nội hàm kinh tế nhà nước trong một nghị quyết chuyên đề

Lần đầu xác lập đầy đủ nội hàm kinh tế nhà nước trong một nghị quyết chuyên đề

Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày những nội dung cốt lõi và điểm mới mang tính đột phá về phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới.
Rà soát toàn diện, chủ động chuẩn bị làm việc với EC về chống khai thác hải sản IUU

Rà soát toàn diện, chủ động chuẩn bị làm việc với EC về chống khai thác hải sản IUU

Chiều 24/2/2026, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), chủ trì phiên họp thứ 31 của Ban Chỉ đạo.
Lâm Đồng chuẩn bị công bố Quy hoạch chung Khu Du lịch quốc gia Mũi Né

Lâm Đồng chuẩn bị công bố Quy hoạch chung Khu Du lịch quốc gia Mũi Né

Chiều 24/2, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Minh chủ trì cuộc họp rà soát tiến độ chuẩn bị Hội nghị công bố Quy hoạch chung xây dựng Khu Du lịch quốc gia Mũi Né đến năm 2040, tầm nhìn 2050. Theo kế hoạch, đồ án sẽ chính thức được công bố vào tháng 4/2026.
Lào Cai hành động quyết liệt, kiến tạo nền tảng tăng trưởng hai con số năm 2026

Lào Cai hành động quyết liệt, kiến tạo nền tảng tăng trưởng hai con số năm 2026

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Lào Cai triển khai đồng bộ các giải pháp về đầu tư công, cải cách hành chính, chuyển đổi số và phát triển ngành, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026.
Tổng Bí thư Tô Lâm: Thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ đầu năm

Tổng Bí thư Tô Lâm: Thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ đầu năm

Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu toàn hệ thống chính trị bắt tay ngay vào công việc từ đầu năm, tuyệt đối không để tồn tại tâm lý “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, sản xuất – kinh doanh và các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội diễn ra thông suốt ngay sau Tết.
Phó Thủ tướng làm việc với 4 “ông lớn” năng lượng

Phó Thủ tướng làm việc với 4 “ông lớn” năng lượng

: Phó thủ tướng Bùi Thanh Sơn làm việc với Petrovietnam, Petrolimex, Vinachem và EVN; yêu cầu đẩy mạnh tăng trưởng hai con số, bảo đảm an ninh năng lượng và triển khai các dự án trọng điểm giai đoạn 2026.
Thủ tướng Chính phủ: Không để “độ trễ” sau Tết, chỉ bàn làm - không bàn lùi

Thủ tướng Chính phủ: Không để “độ trễ” sau Tết, chỉ bàn làm - không bàn lùi

Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương bắt tay vào công việc ngay từ ngày đầu năm mới, sớm ban hành Chỉ thị đôn đốc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm với tinh thần “ăn Tết gọn, làm việc sớm, vào việc ngay”, không để gián đoạn nhịp điều hành và phát triển kinh tế - xã hội.
Đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 14,5% GDP

Đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 14,5% GDP

Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 14,5% GDP, mở rộng 5G 70% dân số và triển khai mạnh công dân số.
Mỹ xem xét đưa Việt Nam khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu

Mỹ xem xét đưa Việt Nam khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu

Cuộc gặp giữa Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng thống Donald Trump tại thủ đô Washington, D.C., sáng 20.2 (giờ địa phương), mở ra kỳ vọng mới cho hợp tác kinh tế, công nghệ và thương mại Việt Nam – Mỹ, đồng thời Mỹ xem xét đưa Việt Nam khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược.