Thứ hai 12/01/2026 14:07
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Thời cuộc

Bất cập trong các quy định về phương thức tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

12/10/2020 00:00
Vấn đề phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện nay được điều chỉnh bởi nghị định số 154/2016/NĐ-CP. Sau một thời gian áp dụng, bên cạnh những mặt tích cực, Nghị định này đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định về cách tính phí cố định

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet

Về mức phí và lưu lượng nước thải tính phí

Theo Nghị định, quy định mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với các cơ sở có lượng nước thải trung bình một năm dưới 20m3/ngày đêm được áp dụng cho tất cả các ngành nghề đang bị coi là chưa hợp lý với một số đối tượng.

Cơ sở sản xuất chế biến có tổng nước thải dưới 20m3/ ngày đêm không áp dụng mức phí biến đổi. Thực tế cho thấy một số cơ sở sản xuất trong những lĩnh vực ngành nghề đặc thù sử dụng lưu lượng nước rất ít, dưới 1m3/ngày đêm hoặc thậm chí chưa đến 10m3/tháng như cơ khí, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng, đá chẻ… hoặc có những cơ sở sản xuất gần như không sử dụng nước trong hoạt động sản xuất như may mặc mà không dệt nhuộm, thạch cao… Việc thu phí cơ sở này bị phản đối dựa trên lập luận rằng quy định thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với tất cả các ngành nghề là không công bằng, bởi không thể đánh đồng giữa cơ sở sản xuất chỉ sử dụng 1m3/ngày đêm với cơ sở sản xuất 20m3/ngày đêm. Các cơ sở sản xuất không sử dụng nước như may mặc, thạch cao… phản đối vì cho rằng không sử dụng nước cho việc sản xuất thì không phải chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. Một số cơ sở chấp nhận đóng phí nhưng yêu cầu mức hợp lí vì họ chỉ sản xuất dưới quy mô hộ gia đình nên mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm là quá cao.

Trong trường hợp một số hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất (2 đến 3 cơ sở) cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít (như cơ khí, may mặc,…) nhiều địa phương lúng túng giữa phương án chỉ thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với hộ gia đình/ năm hay thu phí cố định dựa trên cơ sở sản xuất của hộ gia đình. Để tránh thất thu ngân sách, nhiều địa phương chọn phương án thu dựa trên số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình và bị phản đối. Để việc thu phí được thống nhất, việc quy định rõ về đối tượng chịu phí là hết sức cần thiết. Nhưng Nghị định lại không quy định rõ mức phí cố định 1.500.000đồng/năm thu theo hộ gia đình sản xuất hay thu theo số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình.

Việc quy định về tính phí biến đổi cho các cơ sở sản xuất có lượng nước thải từ 20m3/ngày đêm trở lên theo Nghị định là không phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này. Hiện nay, các cơ sở sản xuất ở Việt nam chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ, tải lượng nước thải không cao. Với mức 20m3/ngày đêm mới tính đến phí biến đổi sẽ dẫn đến tình trạng số lượng cơ sở sản xuất phải đóng phí biến đổi là rất thấp. Nguồn thu cho công tác BVMT từ phí nước tải công nghiệp bị giảm sút đáng kể, không đủ bù đắp chi phí cho hoạt động BVMT.

Về thông số ô nhiễm tính phí

Trong Nghị định có quy định thu phí BVMT đối với 6 chất gây ô nhiễm COD, TSS, Hg, Bp, As, và Cd… Trong thực tế, quy định trên đã tạo áp lực và khó khăn nhất định bởi điều kiện về nguồn lực và phương tiện phân tích thông số ô nhiễm của các địa phương còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được việc thu phí với nhiều chất gây ô nhiễm.

Việc quy định thu phí BVMT đối với 4 loại kim loại nặng cho tất cả các ngành nghề cũnglà bất hợp lý. Bởi, mỗi loại hình sản xuất công nghiệp có một đặc thù riêng, công nghệ sản xuất đa dạng nên việc phát thải gây ô nhiễm khác nhau, không phải ngành sản xuất công nghiệp nào cũng phát sinh nước thải chứa 4 kim loại nặng. Mặt khác, chi phí lấy mẫu, phân tích hàm lượng thông số ô nhiễm thậm chí cao hơn số phí thu được từ cơ sở sản xuất.

Chi phí lấy mẫu tốn kém nên nhiều địa phương chỉ tiến hành lấy mẫu phân tích thông số ô nhiễm theo xác xuất. Việc xác định thông số ô nhiễm tính phí chủ yếu dựa vào việc kê khai của cơ sở sản xuất nên nhiều cơ sở sản xuất kê khai không trung thực, dẫn đến xác định phí không chính xác. Điều này làm giảm hiệu lực và hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường của phí BVMT. Do đó, việc xác định thông số ô nhiễm tính phí cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay cũng như đặc thù phát thải của ngành nghề sản xuất công nghiệp.

Từ những phân tích trên, để giải quyết các bất cập, cần sửa đổi bổ sung một số quy định trong Nghị định. Cụ thể: về phí cố định và lưu lượng nước thải tính phí cố định. Đối với mức phí cố định đối với nước thải công nghiệp hiện nay là 1.500.000 đồng, cần điều chỉnh sau mỗi chu kỳ 5 năm để phù hợp với sự biến động của môi trường và các điều kiện kinh tế, xã hội. Đối với lưu lượng nước thải để tính phí cố định, cần chia nhỏ mức lưu lượng nước thải tính phí cố định phù hợp với các mốc lưu lượng nước thải xử lí vi phạm hành chính.

Về phí biến đổi, ngoài việc tính phí cố định theo hệ số như đã nêu, thu phí biến đổi với mức xả thải từ 5m3/ngày đêm trở lên sẽ có tác dụng điều chỉnh hành vi của cơ sở sản xuất theo hướng có lợi cho môi trường, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho BVMT và đồng thời tạo sự công bằng trong việc thu phí giữa các cơ sở sản xuất. Cần điều chỉnh tăng dần mức phí biến đổi sau mỗi chu kì khoảng 5 năm. Không nên điều chỉnh mức phí theo mức lạm phát vì khó thực hiện và thường gây ảnh hưởng tiêu cực về mặt chính sách. Cách điều chỉnh hiệu quả là áp dụng hệ thống tự điều chỉnh mức phí hàng năm theo chỉ số giá tiêu dùng. Điều này sẽ hạn chế được ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quả của việc áp dụng phí BVMT.

Đối với trường hợp một hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít thì chỉ nên thu phí đối với hộ gia đình. Lưu lượng nước thải tính phí cố định và phí biến đổi là tổng lượng nước thải của các cơ sở sản xuất của hộ gia đình. Quy định này vừa có tính khuyến khích hộ gia đình làm kinh tế, vừa đảm bảo được sự công bằng trong việc thu phí giữa các chủ thể.

Đối với thông số ô nhiễm tính phí, qua thực tế thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP trong 10 năm cho thấy, rất nhiều địa phương đã không thu được phí BVMT đối với các thông số kim loại nặng có trong nước thải, gây thất thu ngân sách nhà nước bởi rất nhiều nguyên nhân. Ví dụ, năng lực quan trắc thông số ô nhiễm kim loại nặng tại các địa phương còn nhiều hạn chế, chi phí phân tích cao, thậm chí chi phí phân tích kim loại nặng cao hơn so với số phí nước thải công nghiệp thu được; Hoặc quy định tính phí theo hàm lượng các thông số kim loại nặng trong nước thải áp dụng đối với mọi đối tượng không đảm bảo tính công bằng giữa các loại hình sản xuất công nghiệp, không phân loại được các nhóm ngành phát sinh nước thải tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, gây tốn kém, phức tạp cho doanh nghiệp của một số ngành sản xuất như thực phẩm, dệt may...

Từ thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải công nghiệp tại Việt Nam cũng như dựa vào đặc thù xả thải của tất cả các ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2009, chỉ nên áp dụng phí BVMT cho 02 chỉ tiêu ô nhiễm là COD, TSS và 01 kim loại nặng có nồng độ cao nhất trong nước thải. Vì đây là các chất gây ô nhiễm hiện diện trong nước thải của tất cả các ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn, việc tính phí đối với kim loại nặng cũng cần thiết vì đây là một trong những tác nhân gây ô nhiễm nặng cho môi trường. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện Việt Nam, trong giai đoạn này chỉ nên tính phí đối với 01 kim loại nặng có nồng độ cao nhất.

Lê Thị Thu Hằng

Tin bài khác
Tây Ninh: Năm 2025 nhiều điểm sáng, tạo đà tăng trưởng cho chặng đường mới

Tây Ninh: Năm 2025 nhiều điểm sáng, tạo đà tăng trưởng cho chặng đường mới

Năm 2025, Tây Ninh ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9,52%, thu ngân sách vượt hơn 40% dự toán và hàng loạt chỉ tiêu kinh tế – xã hội hoàn thành đúng kế hoạch. Những kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi rõ nét của nền kinh tế địa phương, mà còn tạo nền tảng quan trọng để Tây Ninh hướng tới mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026.
Lâm Đồng: Quyết liệt giải phóng mặt bằng để tăng tốc dự án

Lâm Đồng: Quyết liệt giải phóng mặt bằng để tăng tốc dự án

Ngày 11/1/2026, Đoàn công tác của Bộ Xây dựng do Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Trần Hồng Minh dẫn đầu đã có buổi làm việc quan trọng với UBND tỉnh Lâm Đồng. Trọng tâm buổi làm việc xoay quanh các vấn đề cấp thiết về quy hoạch đô thị, phát triển nhà ở xã hội và đặc biệt là chiến lược đột phá hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng.
Từ miền đất Trạng Trình đến xã nông thôn mới kiểu mẫu: Hành trình bứt phá của xã Nguyễn Bỉnh Khiêm

Từ miền đất Trạng Trình đến xã nông thôn mới kiểu mẫu: Hành trình bứt phá của xã Nguyễn Bỉnh Khiêm

Năm 2025 đi qua với dấu ấn đặc biệt trong lịch sử phát triển của xã Nguyễn Bỉnh Khiêm – đơn vị hành chính mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba xã Lý Học, Hòa Bình và Trấn Dương. Từ những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ về tổ chức bộ máy, điều hành và tâm thế cộng đồng, đến nay, xã Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng bước ổn định, khẳng định vị thế, tạo dựng niềm tin và mở ra không gian phát triển mới.
Bộ Tài chính siết bình ổn giá, chống buôn lậu dịp Tết Bính Ngọ 2026

Bộ Tài chính siết bình ổn giá, chống buôn lậu dịp Tết Bính Ngọ 2026

Bộ Tài chính yêu cầu toàn ngành theo dõi sát giá cả thị trường, tăng cường bình ổn hàng thiết yếu và kiểm soát lạm phát dịp Tết Bính Ngọ 2026. Cao điểm chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo đảm an sinh và ổn định đời sống người dân.
Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia: Định hình không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới đến năm 2050

Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia: Định hình không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới đến năm 2050

Việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia nhằm cập nhật yêu cầu phát triển mới của đất nước trong bối cảnh kinh tế – xã hội và môi trường quốc tế có nhiều biến động, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Hải Phòng bước vào năm 2026: Quyết liệt hành động, bứt phá bằng kết quả thực chất

Hải Phòng bước vào năm 2026: Quyết liệt hành động, bứt phá bằng kết quả thực chất

Ngày 9/1/2026, tại Hội nghị tổng kết nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thu – chi ngân sách, giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 do UBND thành phố Hải Phòng tổ chức, Bí thư Thành ủy nhấn mạnh năm 2026 là năm của hành động, lấy kết quả làm thước đo, quyết tâm duy trì tăng trưởng hai con số và tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu nhiệm kỳ mới.
Đà Nẵng: Công bố Nghị quyết số 259/2025/QH15 tạo đột phá thể chế, thúc đẩy thu hút đầu tư năm 2026

Đà Nẵng: Công bố Nghị quyết số 259/2025/QH15 tạo đột phá thể chế, thúc đẩy thu hút đầu tư năm 2026

Chiều ngày 09/01/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã long trọng tổ chức Hội nghị Công bố Nghị quyết số 259/2025/QH15 của Quốc hội và Xúc tiến đầu tư vào thành phố Đà Nẵng năm 2026
Tây Ninh năm thứ hai liên tiếp vào Top 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn

Tây Ninh năm thứ hai liên tiếp vào Top 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn

Với môi trường đầu tư ngày càng minh bạch và năng lực điều hành kinh tế được cải thiện rõ nét, Tây Ninh được Vietnam Report vinh danh trong Top 10 địa phương hấp dẫn doanh nghiệp lớn năm 2025. Đây là năm thứ hai liên tiếp địa phương này có tên trong bảng xếp hạng, cho thấy sức bật ổn định của khu vực doanh nghiệp và vai trò ngày càng rõ trong tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Liên hợp quốc: Kinh tế toàn cầu duy trì đà phục hồi nhưng tăng trưởng vẫn dưới ngưỡng trước đại dịch

Liên hợp quốc: Kinh tế toàn cầu duy trì đà phục hồi nhưng tăng trưởng vẫn dưới ngưỡng trước đại dịch

Mặc dù các điều kiện kinh tế toàn cầu đang dần ổn định hơn nhờ lạm phát hạ nhiệt và chính sách tiền tệ nới lỏng, Liên hợp quốc nhận định tăng trưởng kinh tế thế giới trong năm 2026 vẫn diễn ra chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro từ căng thẳng thương mại, nợ công cao và bất ổn địa chính trị.
Bộ Y tế quy định mới về kê đơn thuốc cổ truyền

Bộ Y tế quy định mới về kê đơn thuốc cổ truyền

Bộ Y tế ban hành Thông tư mới siết chặt và chuẩn hóa việc kê đơn thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và kê đơn kết hợp với thuốc hóa dược trong khám chữa bệnh. Quy định này mở đường cho y học cổ truyền phát triển bài bản, an toàn, gắn kết chặt chẽ với y học hiện đại và xu hướng chăm sóc sức khỏe bền vững.
Giữ nguyên mô hình Văn phòng đăng ký đất đai

Giữ nguyên mô hình Văn phòng đăng ký đất đai

Tiếp tục giữ nguyên mô hình Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc cấp tỉnh, theo Văn bản hợp nhất Nghị định 90 Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành nhằm bảo đảm thông suốt thủ tục nhà đất, tránh xáo trộn tổ chức và áp lực ngân sách.
Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về tăng trưởng kinh tế

Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về tăng trưởng kinh tế

Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn nổi bật của kinh tế khi toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu đều hoàn thành và vượt kế hoạch. Tăng trưởng GDP ước đạt 8,02%, thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động. Đây là thông tin được Bộ Tài chính báo cáo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc với chính quyền địa phương, diễn ra sáng 8/1, nhằm đánh giá kết quả năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
Kỳ vọng mới sau Đại hội Công đoàn TP. HCM

Kỳ vọng mới sau Đại hội Công đoàn TP. HCM

Đại hội Công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030 khép lại không chỉ bằng những con số, nghị quyết hay phương châm hành động, mà quan trọng hơn, bằng kỳ vọng rất lớn của hơn 2,3 triệu đoàn viên, người lao động đang làm việc, sinh sống trên địa bàn thành phố lớn nhất cả nước.
Nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long: Thách thức từ biến đổi khí hậu và yêu cầu tái cấu trúc

Nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long: Thách thức từ biến đổi khí hậu và yêu cầu tái cấu trúc

Nâng cao năng suất nông nghiệp đang trở thành yêu cầu sống còn của Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt và áp lực cạnh tranh quốc tế gia tăng. Khi dư địa mở rộng sản xuất không còn, năng suất – hiệu quả – khả năng thích ứng đang là thước đo mới cho sức cạnh tranh của vùng châu thổ…
Thương mại điện tử xuyên biên giới: Cú hích mới cho nông sản Việt Nam

Thương mại điện tử xuyên biên giới: Cú hích mới cho nông sản Việt Nam

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang tạo ra cách tiếp cận mới, giúp nông sản Việt rút ngắn khoảng cách với thị trường ASEAN và mở rộng kênh phân phối trực tiếp trên không gian số.