Chủ nhật 26/07/2026 17:42
Hotline: 024.355.63.010
Thời cuộc

Bất cập trong các quy định về phương thức tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

12/10/2020 00:00
Vấn đề phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện nay được điều chỉnh bởi nghị định số 154/2016/NĐ-CP. Sau một thời gian áp dụng, bên cạnh những mặt tích cực, Nghị định này đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định về cách tính phí cố định

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet

Về mức phí và lưu lượng nước thải tính phí

Theo Nghị định, quy định mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với các cơ sở có lượng nước thải trung bình một năm dưới 20m3/ngày đêm được áp dụng cho tất cả các ngành nghề đang bị coi là chưa hợp lý với một số đối tượng.

Cơ sở sản xuất chế biến có tổng nước thải dưới 20m3/ ngày đêm không áp dụng mức phí biến đổi. Thực tế cho thấy một số cơ sở sản xuất trong những lĩnh vực ngành nghề đặc thù sử dụng lưu lượng nước rất ít, dưới 1m3/ngày đêm hoặc thậm chí chưa đến 10m3/tháng như cơ khí, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng, đá chẻ… hoặc có những cơ sở sản xuất gần như không sử dụng nước trong hoạt động sản xuất như may mặc mà không dệt nhuộm, thạch cao… Việc thu phí cơ sở này bị phản đối dựa trên lập luận rằng quy định thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với tất cả các ngành nghề là không công bằng, bởi không thể đánh đồng giữa cơ sở sản xuất chỉ sử dụng 1m3/ngày đêm với cơ sở sản xuất 20m3/ngày đêm. Các cơ sở sản xuất không sử dụng nước như may mặc, thạch cao… phản đối vì cho rằng không sử dụng nước cho việc sản xuất thì không phải chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. Một số cơ sở chấp nhận đóng phí nhưng yêu cầu mức hợp lí vì họ chỉ sản xuất dưới quy mô hộ gia đình nên mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm là quá cao.

Trong trường hợp một số hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất (2 đến 3 cơ sở) cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít (như cơ khí, may mặc,…) nhiều địa phương lúng túng giữa phương án chỉ thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với hộ gia đình/ năm hay thu phí cố định dựa trên cơ sở sản xuất của hộ gia đình. Để tránh thất thu ngân sách, nhiều địa phương chọn phương án thu dựa trên số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình và bị phản đối. Để việc thu phí được thống nhất, việc quy định rõ về đối tượng chịu phí là hết sức cần thiết. Nhưng Nghị định lại không quy định rõ mức phí cố định 1.500.000đồng/năm thu theo hộ gia đình sản xuất hay thu theo số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình.

Việc quy định về tính phí biến đổi cho các cơ sở sản xuất có lượng nước thải từ 20m3/ngày đêm trở lên theo Nghị định là không phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này. Hiện nay, các cơ sở sản xuất ở Việt nam chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ, tải lượng nước thải không cao. Với mức 20m3/ngày đêm mới tính đến phí biến đổi sẽ dẫn đến tình trạng số lượng cơ sở sản xuất phải đóng phí biến đổi là rất thấp. Nguồn thu cho công tác BVMT từ phí nước tải công nghiệp bị giảm sút đáng kể, không đủ bù đắp chi phí cho hoạt động BVMT.

Về thông số ô nhiễm tính phí

Trong Nghị định có quy định thu phí BVMT đối với 6 chất gây ô nhiễm COD, TSS, Hg, Bp, As, và Cd… Trong thực tế, quy định trên đã tạo áp lực và khó khăn nhất định bởi điều kiện về nguồn lực và phương tiện phân tích thông số ô nhiễm của các địa phương còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được việc thu phí với nhiều chất gây ô nhiễm.

Việc quy định thu phí BVMT đối với 4 loại kim loại nặng cho tất cả các ngành nghề cũnglà bất hợp lý. Bởi, mỗi loại hình sản xuất công nghiệp có một đặc thù riêng, công nghệ sản xuất đa dạng nên việc phát thải gây ô nhiễm khác nhau, không phải ngành sản xuất công nghiệp nào cũng phát sinh nước thải chứa 4 kim loại nặng. Mặt khác, chi phí lấy mẫu, phân tích hàm lượng thông số ô nhiễm thậm chí cao hơn số phí thu được từ cơ sở sản xuất.

Chi phí lấy mẫu tốn kém nên nhiều địa phương chỉ tiến hành lấy mẫu phân tích thông số ô nhiễm theo xác xuất. Việc xác định thông số ô nhiễm tính phí chủ yếu dựa vào việc kê khai của cơ sở sản xuất nên nhiều cơ sở sản xuất kê khai không trung thực, dẫn đến xác định phí không chính xác. Điều này làm giảm hiệu lực và hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường của phí BVMT. Do đó, việc xác định thông số ô nhiễm tính phí cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay cũng như đặc thù phát thải của ngành nghề sản xuất công nghiệp.

Từ những phân tích trên, để giải quyết các bất cập, cần sửa đổi bổ sung một số quy định trong Nghị định. Cụ thể: về phí cố định và lưu lượng nước thải tính phí cố định. Đối với mức phí cố định đối với nước thải công nghiệp hiện nay là 1.500.000 đồng, cần điều chỉnh sau mỗi chu kỳ 5 năm để phù hợp với sự biến động của môi trường và các điều kiện kinh tế, xã hội. Đối với lưu lượng nước thải để tính phí cố định, cần chia nhỏ mức lưu lượng nước thải tính phí cố định phù hợp với các mốc lưu lượng nước thải xử lí vi phạm hành chính.

Về phí biến đổi, ngoài việc tính phí cố định theo hệ số như đã nêu, thu phí biến đổi với mức xả thải từ 5m3/ngày đêm trở lên sẽ có tác dụng điều chỉnh hành vi của cơ sở sản xuất theo hướng có lợi cho môi trường, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho BVMT và đồng thời tạo sự công bằng trong việc thu phí giữa các cơ sở sản xuất. Cần điều chỉnh tăng dần mức phí biến đổi sau mỗi chu kì khoảng 5 năm. Không nên điều chỉnh mức phí theo mức lạm phát vì khó thực hiện và thường gây ảnh hưởng tiêu cực về mặt chính sách. Cách điều chỉnh hiệu quả là áp dụng hệ thống tự điều chỉnh mức phí hàng năm theo chỉ số giá tiêu dùng. Điều này sẽ hạn chế được ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quả của việc áp dụng phí BVMT.

Đối với trường hợp một hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít thì chỉ nên thu phí đối với hộ gia đình. Lưu lượng nước thải tính phí cố định và phí biến đổi là tổng lượng nước thải của các cơ sở sản xuất của hộ gia đình. Quy định này vừa có tính khuyến khích hộ gia đình làm kinh tế, vừa đảm bảo được sự công bằng trong việc thu phí giữa các chủ thể.

Đối với thông số ô nhiễm tính phí, qua thực tế thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP trong 10 năm cho thấy, rất nhiều địa phương đã không thu được phí BVMT đối với các thông số kim loại nặng có trong nước thải, gây thất thu ngân sách nhà nước bởi rất nhiều nguyên nhân. Ví dụ, năng lực quan trắc thông số ô nhiễm kim loại nặng tại các địa phương còn nhiều hạn chế, chi phí phân tích cao, thậm chí chi phí phân tích kim loại nặng cao hơn so với số phí nước thải công nghiệp thu được; Hoặc quy định tính phí theo hàm lượng các thông số kim loại nặng trong nước thải áp dụng đối với mọi đối tượng không đảm bảo tính công bằng giữa các loại hình sản xuất công nghiệp, không phân loại được các nhóm ngành phát sinh nước thải tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, gây tốn kém, phức tạp cho doanh nghiệp của một số ngành sản xuất như thực phẩm, dệt may...

Từ thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải công nghiệp tại Việt Nam cũng như dựa vào đặc thù xả thải của tất cả các ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2009, chỉ nên áp dụng phí BVMT cho 02 chỉ tiêu ô nhiễm là COD, TSS và 01 kim loại nặng có nồng độ cao nhất trong nước thải. Vì đây là các chất gây ô nhiễm hiện diện trong nước thải của tất cả các ngành công nghiệp gây ô nhiễm lớn, việc tính phí đối với kim loại nặng cũng cần thiết vì đây là một trong những tác nhân gây ô nhiễm nặng cho môi trường. Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện Việt Nam, trong giai đoạn này chỉ nên tính phí đối với 01 kim loại nặng có nồng độ cao nhất.

Lê Thị Thu Hằng

Tin bài khác
Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Bài 8: Đổi tên luật hay đổi tư duy phát triển doanh nghiệp?

Đổi tên Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không đơn thuần là sửa vài chữ trong một văn bản pháp luật. Điều quan trọng hơn là thay đổi tư duy làm chính sách, từ "hỗ trợ" sang "tạo cơ hội" để doanh nghiệp tự lớn lên bằng năng lực của mình.
Thị trường carbon mở ra không gian cạnh tranh và hợp tác kinh tế toàn cầu mới

Thị trường carbon mở ra không gian cạnh tranh và hợp tác kinh tế toàn cầu mới

Thị trường carbon đang chuyển từ công cụ chính sách sang không gian cạnh tranh toàn cầu, buộc Việt Nam chủ động tham gia để tận dụng cơ hội tăng trưởng xanh và đáp ứng cam kết giảm phát thải.
Thu gần 30 tỷ đồng sau tuần đầu thu phí 5 tuyến cao tốc

Thu gần 30 tỷ đồng sau tuần đầu thu phí 5 tuyến cao tốc

Sau một tuần triển khai thu phí điện tử không dừng, 5 tuyến cao tốc Bắc – Nam ghi nhận lưu lượng lớn, doanh thu gần 30 tỷ đồng, mở ra bước chuyển quan trọng trong vận hành hạ tầng.
Lâm Đồng: Khảo sát doanh nghiệp, thúc đẩy triển khai hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW

Lâm Đồng: Khảo sát doanh nghiệp, thúc đẩy triển khai hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW

Chiều 23/7, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Ngọc Phúc đã dẫn đầu đoàn công tác khảo sát, làm việc với một số doanh nghiệp tại khu vực Tây Lâm Đồng nhằm nắm bắt tình hình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao Chỉ số BPI trên địa bàn tỉnh.
Đà Nẵng - Quảng Ngãi liên kết hình thành cực tăng trưởng mới của miền Trung

Đà Nẵng - Quảng Ngãi liên kết hình thành cực tăng trưởng mới của miền Trung

Lãnh đạo TP. Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi thống nhất xây dựng Đề án phát triển liên kết không gian Chu Lai - Dung Quất - Nam Giang - Hành lang kinh tế Đông - Tây 2, hướng tới hình thành cực tăng trưởng mới về công nghiệp, logistics, thương mại tự do, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo của miền Trung.
Đề xuất đầu tư PPP cao tốc Pleiku - Lệ Thanh hơn 17.000 tỷ đồng

Đề xuất đầu tư PPP cao tốc Pleiku - Lệ Thanh hơn 17.000 tỷ đồng

Gia Lai đề xuất đầu tư cao tốc Pleiku - Lệ Thanh theo hình thức PPP, tổng vốn hơn 17.000 tỷ đồng, kỳ vọng tạo động lực phát triển kinh tế và kết nối chiến lược vùng Tây Nguyên.
Quy hoạch đường bộ mới hướng tới hơn 10.000km cao tốc toàn quốc năm 2050

Quy hoạch đường bộ mới hướng tới hơn 10.000km cao tốc toàn quốc năm 2050

Quy hoạch điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2050 phát triển hơn 10.000km cao tốc, mở rộng kết nối vùng, tạo nền tảng hạ tầng then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Thị trường vốn cần cú hích thể chế để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng

Thị trường vốn cần cú hích thể chế để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng

Trước yêu cầu tăng trưởng cao, các chuyên gia nhấn mạnh cần phát triển thị trường vốn đồng bộ, minh bạch nhằm giảm áp lực cho ngân hàng và mở rộng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế.
Bộ Xây dựng: Thúc đẩy hợp tác xã đa ngành, nâng năng lực cạnh tranh giai đoạn mới

Bộ Xây dựng: Thúc đẩy hợp tác xã đa ngành, nâng năng lực cạnh tranh giai đoạn mới

Bộ Xây dựng định hướng phát triển hợp tác xã xây dựng, vận tải theo mô hình đa ngành, đẩy mạnh công nghệ, liên kết thị trường và nâng cao năng lực quản trị trong giai đoạn 2026-2030.
Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương: Đổi mới tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước để dẫn dắt tăng trưởng

Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương: Đổi mới tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước để dẫn dắt tăng trưởng

Ông Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước phải đổi mới tư duy, nâng hiệu quả, xác định rõ vai trò dẫn dắt và tháo gỡ điểm nghẽn thể chế để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Điều chỉnh quy hoạch đường sắt quốc gia, bổ sung 16 tuyến mới và tốc độ cao

Điều chỉnh quy hoạch đường sắt quốc gia, bổ sung 16 tuyến mới và tốc độ cao

Quy hoạch đường sắt quốc gia được điều chỉnh với 16 tuyến mới, hai tuyến tốc độ cao, mở rộng kết nối liên vùng, thúc đẩy logistics và tạo động lực phát triển kinh tế dài hạn.
Bài 6: Sửa luật để doanh nghiệp không còn khát vốn

Bài 6: Sửa luật để doanh nghiệp không còn khát vốn

Sau gần 10 năm thực thi, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho khu vực chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp cả nước. Tuy nhiên, nhiều chính sách hỗ trợ, đặc biệt về tín dụng, vẫn chưa đi vào thực chất.
Dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định PPP lần 2: Mở rộng dư địa thu hút vốn tư nhân

Dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định PPP lần 2: Mở rộng dư địa thu hút vốn tư nhân

Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư hạ tầng ngày càng lớn trong khi nguồn lực ngân sách còn hạn chế, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) – lần 2. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá về thể chế, tháo gỡ những vướng mắc kéo dài trong quá trình triển khai các dự án PPP, đồng thời tăng sức hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư tư nhân.
Nhân lực chất lượng cao trở thành nền tảng chiến lược thu hút FDI thế hệ mới

Nhân lực chất lượng cao trở thành nền tảng chiến lược thu hút FDI thế hệ mới

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng khốc liệt, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định, giúp Việt Nam nâng cao nội lực, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cắt giảm điều kiện kinh doanh: Yêu cầu thực chất, tránh hình thức và biến tướng

Cắt giảm điều kiện kinh doanh: Yêu cầu thực chất, tránh hình thức và biến tướng

Chính phủ đề xuất cắt giảm điều kiện kinh doanh, nhưng Quốc hội yêu cầu thực hiện thực chất, tránh hình thức, không phát sinh rào cản mới, đồng thời thúc đẩy môi trường đầu tư minh bạch, hiệu quả.