Khoản tiền tranh chấp hơn 7,4 tỷ đồng
Ngày 30/9/2025, TAND TP. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ tranh chấp hợp đồng hứa thưởng giữa nguyên đơn là ông K. và bị đơn là Công ty Đ. Theo thông tin được Báo Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh công bố ngày 29/12/2025, bản án có số 1595/2025/DS-ST.
![]() |
| Vắng mặt tại tòa, doanh nghiệp tự đánh mất cơ hội bảo vệ mình. Đồ hoạ AI |
Theo trình bày của nguyên đơn, hai bên đồng ý ký hợp đồng hứa thưởng hai lần với tổng số tiền 5,2 tỷ đồng.
Theo thỏa thuận, ông K. thực hiện công việc tìm kiếm, khai thác quan hệ và hỗ trợ Công ty Đ. ký kết hợp đồng xây dựng dự án. Phạm vi công việc không bao gồm việc lập hồ sơ đấu thầu, xét thầu hay các công việc khác được nêu trong hợp đồng.
Ông K. cho rằng mình đã thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận. Tuy nhiên, Công ty Đ. mới thanh toán 2,6 tỷ đồng và không trả phần tiền hứa thưởng còn lại.
Từ đó, ông K. khởi kiện, yêu cầu công ty thanh toán khoản tiền còn nợ cùng tiền lãi phát sinh. Tổng số tiền được yêu cầu giải quyết tại tòa lên đến hơn 7,4 tỷ đồng.
Vấn đề pháp lý của vụ án không đơn thuần nằm ở con số tiền được ghi trong hai hợp đồng. Điều cần làm rõ là các thỏa thuận có hiệu lực hay không, công việc đã được thực hiện đến đâu, nghĩa vụ thanh toán phát sinh như thế nào và mỗi bên đã thực hiện trách nhiệm chứng minh ra sao.
Tòa án xác định hợp đồng có hiệu lực
Hội đồng xét xử nhận định hai hợp đồng hứa thưởng đáp ứng các điều kiện về chủ thể, hình thức và nội dung. Hợp đồng được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên, có đóng dấu doanh nghiệp; các bên tham gia tự nguyện và nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Theo đó, Hội đồng xét xửội Hôi buộc Công ty Đ. thanh toán khoản tiền hứa thưởng còn nợ cùng tiền lãi, tổng cộng hơn 7,4 tỷ đồng.
Vụ án cho thấy một nguyên tắc quan trọng: khi hợp đồng được xác lập hợp pháp, các bên phải thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết. Doanh nghiệp không thể tùy ý từ chối thanh toán chỉ vì sau đó phát sinh bất đồng hoặc không còn muốn tiếp tục thực hiện thỏa thuận.
Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Trong đó có yêu cầu về chủ thể, sự tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Hình thức giao dịch cũng phải đáp ứng yêu cầu pháp luật trong những trường hợp luật có quy định.
Tuy nhiên, việc một hợp đồng có chữ ký và con dấu không có nghĩa mọi điều khoản trong đó đương nhiên hợp pháp. Khi xảy ra tranh chấp, tòa án vẫn phải xem xét bản chất giao dịch, thẩm quyền ký kết, nội dung thỏa thuận và các chứng cứ liên quan.
Với những hợp đồng hứa thưởng hoặc môi giới, doanh nghiệp càng cần quy định cụ thể công việc được giao, kết quả cần đạt, thời điểm phát sinh quyền hưởng thù lao và phương thức xác định số tiền phải trả.
Nếu chỉ ghi chung chung rằng một bên được thưởng khi giúp doanh nghiệp ký được hợp đồng, các bên có thể bất đồng về mức độ đóng góp hoặc thời điểm nghĩa vụ thanh toán phát sinh.
Vắng mặt tại tòa, doanh nghiệp tự đánh mất cơ hội bảo vệ mình
Một tình tiết đáng chú ý trong vụ án là Công ty Đ. đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi ý kiến trình bày và không cung cấp chứng cứ để phản bác yêu cầu khởi kiện.
Theo bản án được công bố, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng những tài liệu được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án để xem xét yêu cầu khởi kiện. Tòa cũng đề cập đến nghĩa vụ chứng minh của đương sự theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
| Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đặt ra nguyên tắc các bên có yêu cầu phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó có căn cứ và hợp pháp; bên phản đối yêu cầu của người khác cũng phải thể hiện sự phản đối và chứng minh theo quy định. Trong tranh chấp kinh doanh, thương mại, nguyên tắc này đặc biệt quan trọng. Doanh nghiệp không thể chỉ tuyên bố rằng mình không đồng ý với yêu cầu thanh toán, mà cần đưa ra tài liệu chứng minh. Chẳng hạn, nếu cho rằng đối tác chưa hoàn thành công việc, doanh nghiệp cần có biên bản xác nhận, thư từ trao đổi, báo cáo tiến độ hoặc tài liệu thể hiện những nghĩa vụ chưa được thực hiện. Nếu cho rằng số tiền yêu cầu không đúng, cần cung cấp chứng từ thanh toán, đối chiếu công nợ hoặc căn cứ xác định giá trị thực tế phải trả. Nếu doanh nghiệp đã thanh toán một phần, chứng từ chuyển khoản, phiếu thu và biên bản đối chiếu công nợ cũng có thể trở thành những tài liệu quan trọng để xác định nghĩa vụ còn lại. |
Việc không tham gia tố tụng không đồng nghĩa yêu cầu của nguyên đơn đương nhiên được chấp nhận trong mọi trường hợp. Tòa án vẫn phải xem xét chứng cứ và căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, khi bị đơn không thực hiện quyền trình bày, phản bác và cung cấp tài liệu, họ có thể tự làm suy giảm khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Đối với doanh nghiệp, một vụ kiện không chỉ là công việc của bộ phận pháp chế hay luật sư. Đó còn là vấn đề quản trị, đòi hỏi người đại diện theo pháp luật và các bộ phận liên quan kịp thời cung cấp hồ sơ, xác định người chịu trách nhiệm và phối hợp xử lý.
Bài học từ những hợp đồng hứa thưởng, môi giới
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp sử dụng hợp đồng môi giới, hợp đồng tư vấn hoặc thỏa thuận hứa thưởng để mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng và tiếp cận dự án.
Đây là những giao dịch mang lại lợi ích kinh tế đáng kể, nhưng cũng tiềm ẩn tranh chấp nếu các bên không xác định rõ phạm vi công việc và điều kiện thanh toán.
Từ vụ án trên, doanh nghiệp cần lưu ý ba vấn đề.
Thứ nhất, xác định rõ công việc và kết quả được hưởng thưởng.
Hợp đồng cần mô tả cụ thể công việc phải thực hiện, giới hạn ủy quyền, kết quả cần đạt và tiêu chí xác định việc hoàn thành. Với hợp đồng hứa thưởng gắn với việc ký kết dự án, cần làm rõ khoản thưởng phát sinh khi ký hợp đồng, khi nhận được tiền hay khi đạt một mốc thực hiện nhất định.
Các bên cũng nên quy định rõ trường hợp hợp đồng chính bị hủy bỏ, giao dịch không thực hiện được hoặc kết quả đạt được chỉ một phần thì khoản thưởng được xử lý thế nào.
Thứ hai, thiết lập quy trình nghiệm thu và đối chiếu công nợ.
Doanh nghiệp nên có văn bản xác nhận kết quả công việc, biên bản nghiệm thu hoặc tài liệu tương đương, kèm thời hạn thanh toán cụ thể. Việc đối chiếu định kỳ giúp phát hiện sớm bất đồng, tránh để công nợ kéo dài đến khi một bên phải khởi kiện.
Mọi khoản thanh toán cần có chứng từ đầy đủ. Nếu có thay đổi về phạm vi công việc hoặc mức thù lao, các bên nên lập phụ lục hoặc văn bản sửa đổi thay vì chỉ trao đổi miệng.
Thứ ba, không xem nhẹ việc xử lý tranh chấp.
Khi nhận được thông báo của tòa án, doanh nghiệp cần chuyển ngay cho bộ phận pháp chế hoặc luật sư để đánh giá hồ sơ, xác định thời hạn và chuẩn bị ý kiến. Việc không đồng ý với yêu cầu khởi kiện không phải lý do để bỏ qua giấy triệu tập hoặc không cung cấp tài liệu.
Nếu có căn cứ cho rằng yêu cầu của nguyên đơn không đúng, doanh nghiệp càng cần chủ động trình bày và chứng minh.
