Một mỏ đá được cấp phép khai thác 1,7 triệu m³/năm nhưng sản lượng thực tế liên tục vượt mức này trong 4 năm. Khi đối chiếu khối lượng khai thác với hồ sơ kế toán, Thanh tra Chính phủ còn phát hiện hơn 205.000 m³ đá nguyên khai không được ghi nhận trên sổ sách. Đằng sau những con số này là câu chuyện về quản lý tài nguyên, nghĩa vụ ngân sách và trách nhiệm kiểm tra sau cấp phép.
Mỏ đá Thường Tân III được UBND tỉnh Bình Dương (cũ), nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, cấp Giấy phép khai thác khoáng sản số 78/GP-UBND ngày 9/9/2019 cho Công ty Cổ phần Xây dựng Bình Dương.
![]() |
| Hoạt động khảo sát, làm việc tại khu vực mỏ Thường Tân III. Kết luận Thanh tra Chính phủ không chỉ chỉ ra vi phạm của doanh nghiệp mà còn xác định trách nhiệm liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát sau cấp phép. Trong ảnh: chuyến khảo sát mỏ Thường Tân III ngày 21/1/2026. |
Theo giấy phép, doanh nghiệp được khai thác trữ lượng 17.367.811 m³ đá nguyên khối, công suất 1,7 triệu m³/năm, thời hạn 10 năm, đến ngày 9/9/2029.
Nhưng sản lượng thực tế trong 4 năm từ 2022 đến 2025 đã vượt công suất được cấp phép liên tục.
Theo kết luận thanh tra, tổng khối lượng vượt là 785.949 m³ đá nguyên khối, tương đương 1.139.626 m³ đá nguyên khai, với giá trị tạm tính khoảng 120,041 tỷ đồng.
Riêng năm 2022, sản lượng vượt công suất là 68.626 m³, tương đương 4,037%. Sang năm 2023, con số này tăng lên 236.620 m³, tương đương 13,919%.
Năm 2024, sản lượng vượt là 237.493 m³, tương đương 13,970%. Đến năm 2025, mức vượt tiếp tục lên 243.210 m³, tương đương 14,306%.
Đáng chú ý, theo nội dung được Thanh tra Chính phủ xác minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Xây dựng Bình Dương thừa nhận doanh nghiệp nhận thức được việc khai thác vượt công suất ghi trong giấy phép nhưng vẫn thực hiện do nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp đồng thời chủ động kiểm soát phần vượt dưới 15% công suất được phép.
Thanh tra Chính phủ cho rằng việc khai thác vượt công suất là không đúng nội dung giấy phép và có dấu hiệu của hành vi vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên theo Điều 227 Bộ luật Hình sự.
Đây là phần đáng chú ý hơn khi đối chiếu sản lượng thực tế với số liệu kế toán. Theo Kết luận giám định số 340/KLGĐ-DCTTB ngày 10/8/2026, tổng khối lượng khoáng sản thực tế được khai thác tại mỏ Thường Tân III từ ngày 1/8/2019 đến 23/7/2026 là 19.024.038 m³ đá nguyên khai.
![]() |
| Thanh tra Chính phủ xác định Công ty Cổ phần Xây dựng Bình Dương khai thác vượt phép hơn 1,13 triệu m³ đá tại mỏ Thường Tân III. Hơn 205.000 m³ đá, trị giá tạm tính 28,6 tỷ đồng, không được ghi nhận trên sổ kế toán. |
Trong khi đó, hồ sơ tồn kho, sản lượng khai thác và chứng từ kế toán cho thấy doanh nghiệp kê khai tổng khối lượng khai thác trong cùng kỳ là 18.818.631 m³.
Chênh lệch giữa hai con số là 205.407 m³ đá nguyên khai. Theo kết luận thanh tra, khối lượng này có giá trị tạm tính 28,617 tỷ đồng, dựa trên đơn giá bán bình quân năm 2025 là 139.317 đồng/m³.
Thanh tra Chính phủ xác định số đá đã khai thác nhưng không được Công ty Cổ phần Xây dựng Bình Dương ghi nhận, phản ánh trên sổ kế toán. Cơ quan Thanh tra cho rằng hành vi này có dấu hiệu của việc để ngoài sổ kế toán tài sản của đơn vị kế toán, thuộc hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Kế toán.
Từ hồ sơ thu thập được, Thanh tra Chính phủ xác định hành vi trên có dấu hiệu của tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 221 Bộ luật Hình sự và có dấu hiệu của tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Khi sản lượng thực tế và số liệu kế toán có chênh lệch, nghĩa vụ với ngân sách cũng trở thành một phần quan trọng của vụ việc.
![]() |
| Một khu vực khai thác tại mỏ đá Thường Tân III. Theo kết luận Thanh tra Chính phủ, trong 4 năm 2022-2025, Công ty Cổ phần Xây dựng Bình Dương đã khai thác vượt công suất được cấp phép 785.949 m³ đá nguyên khối, tương đương 1.139.626 m³ đá nguyên khai. |
Thanh tra Chính phủ tạm tính các khoản thuế, phí doanh nghiệp chưa kê khai, thực hiện khoảng 7,161 tỷ đồng. Số này gồm thuế tài nguyên với thuế suất 10%, phí bảo vệ môi trường 7.000 đồng/m³ và thuế giá trị gia tăng; chưa bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Như vậy, chỉ riêng khối lượng 205.407 m³ đá được xác định không phản ánh trên sổ kế toán đã kéo theo một câu hỏi lớn hơn về việc xác định đầy đủ doanh thu, nghĩa vụ thuế và các khoản phải nộp liên quan đến tài nguyên khai thác.
Đây cũng là điểm khiến câu chuyện mỏ đá Thường Tân III không chỉ nằm ở việc vượt công suất giấy phép, mà liên quan đồng thời đến quản lý tài nguyên, kế toán và thực hiện nghĩa vụ ngân sách.
Một vấn đề khác được Thanh tra Chính phủ đặt ra là trách nhiệm quản lý sau khi cấp phép.
Theo kết luận, Công ty Cổ phần Xây dựng Bình Dương đã khai thác vượt công suất trong nhiều năm nhưng không được cơ quan quản lý phát hiện, xử lý kịp thời. Sau 8 năm kể từ thời điểm cấp phép, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh chưa thực hiện kiểm tra, giám sát việc chấp hành các điều kiện của giấy phép tại mỏ Thường Tân III.
Thanh tra TP. Hồ Chí Minh đã thực hiện thanh tra chuyên đề lĩnh vực khoáng sản năm 2026 và phát hiện vi phạm, nhưng chưa kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định, theo nội dung kết luận được công bố.
Trách nhiệm liên quan được Thanh tra Chính phủ xác định đối với UBND TP. Hồ Chí Minh, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Thanh tra TP. Hồ Chí Minh, Thuế TP. Hồ Chí Minh, Công ty Cổ phần Xây dựng Bình Dương cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Ở góc độ thị trường, câu chuyện này càng đáng chú ý khi nguồn đá xây dựng đang là một mắt xích quan trọng đối với nhiều dự án hạ tầng lớn. Kết luận thanh tra chuyên đề cũng cho thấy một số dự án giao thông tại khu vực TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Đồng Tháp vẫn thiếu nguồn vật liệu xây dựng.
Điều đó đặt ra yêu cầu không chỉ về việc khai thác đúng giấy phép, mà còn về khả năng theo dõi sản lượng thực tế, kiểm soát dòng khoáng sản từ khai trường đến tiêu thụ và đối chiếu với số liệu kế toán, thuế.
Với mỏ Thường Tân III, những con số mà Thanh tra Chính phủ đưa ra cho thấy khoảng cách giữa đá được khai thác ngoài thực địa và đá được phản ánh trên sổ sách đã trở thành vấn đề cần được làm rõ về tính chất, mức độ, hậu quả và trách nhiệm của các bên liên quan.