TP. Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo tham vấn chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, tập trung góp ý hoàn thiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi, hướng tới xây dựng hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp thực chất, minh bạch và bền vững trong giai đoạn 2026–2030.
![]() |
| “Tham vấn chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, gợi mở định hướng hoàn thiện chính sách trong giai đoạn mới”. |
Hội thảo có sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cùng các tổ chức quốc tế. Chương trình tập trung thảo luận về quá trình thực thi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, đồng thời góp ý các định hướng sửa đổi chính sách nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn 2026–2030.
Theo chương trình hội thảo, sau phần khai mạc và phát biểu của đại diện nhà tài trợ, các đại biểu nghe chia sẻ về quá trình xây dựng và những định hướng lớn trong dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi. Bên cạnh đó, hội thảo dành thời lượng cho các tham luận đánh giá thực tiễn thi hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách đối với hộ kinh doanh, cũng như các giải pháp hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tới.
![]() |
| Luật sư Đào Văn Hưng - Viện Khoa học pháp lý và Phát triển doanh nghiệp phát biểu. |
Phát biểu tại hội thảo, Luật sư Đào Văn Hưng - Viện Khoa học pháp lý và Phát triển doanh nghiệp cho biết: khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đóng góp vào tăng trưởng. Tuy nhiên, sau hơn 8 năm triển khai, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã bộc lộ một số bất cập; nhiều cơ chế hỗ trợ chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, thủ tục còn mang tính hình thức, nguồn lực hỗ trợ còn dàn trải và chưa đi vào chiều sâu.
Theo số liệu được nêu tại hội thảo, Việt Nam hiện có khoảng 1,2 triệu doanh nghiệp và 5,3 triệu hộ kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98%. Đây là lực lượng có quy mô lớn, có sức lan tỏa rộng trong nền kinh tế, nhưng cũng là nhóm dễ bị tổn thương trước các biến động về vốn, thị trường, công nghệ, chuyển đổi số, chi phí tuân thủ pháp luật và khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Từ thực tiễn đó, các đại biểu cho rằng việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được đặt trong bối cảnh mới, khi kinh tế tư nhân tiếp tục được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Chính sách hỗ trợ không nên dừng ở các giải pháp ngắn hạn, hành chính, mà cần chuyển sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận quản trị hiện đại và phát triển bền vững.
![]() |
| TS. Phan Hoàng Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hồ Chí Minh (thứ 3 từ phải sang). |
Trong tham luận tại hội thảo, TS. Phan Hoàng Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hồ Chí Minh, để có cơ sở xây dựng chính sách sửa đổi đột phá, Hiệp hội DNNVV TP.HCM xin thẳng thắn chỉ ra 5 điểm nghẽn cốt tử đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp:
Khung pháp lý hỗ trợ còn phân tán, chồng chéo và thiếu tính thực thi. Hệ thống pháp luật đang bộc lộ sự chồng chéo, thiếu thống nhất giữa Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 với các luật chuyên ngành khác như luật về đất đai, đầu tư, và ngân sách nhà nước. Nhiều quy định hướng dẫn cũ, điển hình như Nghị định số 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý, đã không còn bắt kịp các chuyển dịch của thực tiễn. Sự bất cập này tạo ra rào cản hành chính lớn, làm gia tăng chi phí tuân thủ pháp luật và tạo tâm lý e ngại rủi ro cho doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn lực nhà nước.
"Nếu thể chế không đi trước mở đường để tháo gỡ sự chồng chéo giữa các luật chuyên ngành, mọi nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp ở các khâu phía sau sẽ chỉ dừng lại ở tính sự vụ và thiếu hiệu quả thực chất!"
Doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn lực và thông tin hỗ trợ chính sách. Khả năng tiếp cận thông tin pháp lý cơ bản về đầu tư, sản xuất kinh doanh của DNNVV còn hạn chế, đặc biệt tại các vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Nguồn lực hỗ trợ từ các chương trình của Nhà nước thường phân tán, thiếu tiêu chí rõ ràng khiến nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp địa phương khó tiếp cận một cách bình đẳng. Nguyên nhân do hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật và thông tin hỗ trợ chưa được tích hợp đồng bộ trên một đầu mối, các phương thức cũ chưa tận dụng triệt để lợi thế của các nền tảng số dùng chung. Điều này khiến doanh nghiệp bị đặt vào tình trạng "đói" thông tin, giảm khả năng chủ động phòng ngừa rủi ro.
"DNNVV không thiếu khát vọng phát triển, họ chỉ thiếu một cơ chế tiếp cận thông tin và nguồn lực thực sự minh bạch, bình đẳng, không rào cản hành chính."
Chính sách tín dụng, thuế, mặt bằng sản xuất và chi phí tuân thủ bị nghẽn. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng vẫn phụ thuộc nặng nề vào tài sản thế chấp truyền thống, trong khi doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thường không có tài sản thế chấp. Hệ thống Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương có vốn điều lệ thấp, quy trình khắt khe do quy định về bảo toàn vốn chưa phù hợp với thực tế. Hồ sơ chính sách hoàn toàn thiếu cơ chế "miễn trừ trách nhiệm" đối với cán bộ Quỹ khi đã thực hiện đúng quy trình bảo lãnh tín chấp nhưng doanh nghiệp gặp rủi ro khách quan. Bên cạnh đó, việc tiếp cận mặt bằng sản xuất gặp khó khăn do thiếu quỹ đất sạch ưu đãi; trách nhiệm của địa phương và chủ đầu tư hạ tầng trong việc dành tỷ lệ diện tích đất nhất định cho DNNVV thuê chưa mang tính bắt buộc cứng. Chi phí tuân thủ hành chính và chế độ kế toán đối với nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ còn quá phức tạp, buộc họ phải duy trì quy mô manh mún để né tránh chi phí.
"Muốn DNNVV lớn mạnh, chúng ta phải cởi bỏ tư duy 'có tài sản thế chấp mới cho vay' và phải dành cho họ những không gian mặt bằng sản xuất với chi phí thực sự ưu đãi."
Hỗ trợ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thực hành ESG thiếu chiều sâu. Công tác hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ phần lớn mới dừng ở tuyên truyền nâng cao nhận thức, thiếu công cụ kích cầu trực tiếp và chưa thiết lập được cơ chế phân bổ nguồn lực công cụ thể như cấp "voucher công nghệ". Doanh nghiệp thiếu nghiêm trọng các nền tảng số dùng chung và nguồn vốn để đặt hàng công nghệ. Đối với chuyển đổi xanh và ESG – "tấm vé" bắt buộc để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu – hồ sơ dự thảo sửa đổi chưa rõ cơ quan nào xác nhận "doanh nghiệp xanh", tiêu chí nào được áp dụng (ISO hay bộ chỉ số nội địa) , và hoàn toàn thiếu cơ chế hỗ trợ chi phí kiểm toán phát thải carbon cho DNNVV. Nếu không có hỗ trợ cụ thể về kỹ thuật và xác nhận đạt chuẩn, doanh nghiệp sẽ bị loại khỏi chuỗi cung ứng quốc tế.
"Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo không thể thành công bằng những lời kêu gọi chung chung; doanh nghiệp cần những 'voucher công nghệ' thực chất và một hệ sinh thái vườn ươm có sự đồng hành của dòng vốn tín dụng."
Thiếu cơ chế theo dõi, đánh giá độc lập và phối hợp thực thi gắn với Hiệp hội. Hoạt động triển khai chính sách thời gian qua thiếu hệ thống tiêu chí định lượng để đánh giá kết quả đầu ra rõ ràng, việc thu thập dữ liệu vướng mắc chưa được số hóa toàn diện theo thời gian thực. Đáng chú ý, hồ sơ xây dựng luật mới dù nêu yêu cầu "thiết lập cơ chế đánh giá độc lập" nhưng lại chưa định danh rõ ràng Hiệp hội doanh nghiệp là chủ thể thực hiện , thiếu cơ chế kinh phí từ ngân sách nhà nước đặt hàng dịch vụ công cho Hiệp hội , và chưa rõ quy trình tiếp nhận, xử lý phản hồi khi Hiệp hội đánh giá "không hài lòng". Nếu chỉ giao cho các cơ quan nhà nước tự đánh giá hoặc thuê tư vấn, báo cáo đánh giá dễ rơi vào tình trạng "tô hồng" thành tích, thiếu tính khách quan.
"Một chính sách hỗ trợ dù có mục tiêu tốt đẹp đến đâu nhưng nếu không được đo lường bằng kết quả đầu ra thực tế của doanh nghiệp thì chính sách đó đã thất bại một nửa ngay từ khâu thiết kế."
Các tham luận cũng đề xuất hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá độc lập đối với các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc đánh giá cần dựa trên dữ liệu thực tế, mức độ hài lòng của doanh nghiệp thụ hưởng và kết quả đầu ra cụ thể, thay vì chỉ dừng lại ở số lượng chương trình, lớp tập huấn hay văn bản đã ban hành. Các kết quả đánh giá cần được công bố công khai, làm cơ sở điều chỉnh chính sách kịp thời.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến thống nhất rằng giai đoạn 2026–2030 là thời điểm quan trọng để tái thiết kế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng số hóa, chuyên sâu và bền vững. Việc sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ nhằm tháo gỡ vướng mắc kỹ thuật trong thực thi, mà còn là cơ hội để hình thành một khung chính sách mới, đồng bộ hơn với các định hướng phát triển kinh tế tư nhân, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Kết thúc hội thảo, các đại biểu tiếp tục thảo luận, góp ý nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trong giai đoạn mới. Những ý kiến tại hội thảo được kỳ vọng sẽ góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho quá trình sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh phát triển bền vững, minh bạch và có năng lực cạnh tranh cao hơn trong thời gian tới.