Thứ ba 08/09/2026 06:26
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

Nợ xấu: Xác định đúng bệnh mới kê toa

04/01/2022 20:35
Trong buổi họp báo “Triển khai nhiệm vụ ngành NH 2022” của NHNN vừa qua, thông tin về tổng tỷ lệ nợ xấu lên đến 8,2% đã thu hút nhiều sự chú ý, làm mờ con số 12,68% tăng trưởng tín dụng

Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, vấn đề nợ xấu được các nền kinh tế đặc biệt quan tâm. Đến lúc này, việc xử lý nợ xấu của EU được đánh giá khá thành công. Những bài học của EU có thể áp dụng cho Việt Nam?

Bức tranh nợ xấu

Với quy định phân loại 5 nhóm nợ, các khoản nợ thuộc nhóm 4 và 5 đáng quan tâm nhất trong vấn đề nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu của cả hệ thống NH ước tính 3,79%. Sau 2 lần sửa đổi, bổ sung Thông tư 01/2000/TT-NHNN, đến nay đã có khoảng 607.000 tỷ đồng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ. Nếu tính nợ tiềm ẩn trong số này, tỷ lệ nợ xấu có thể lên đến 8,2%.

Nợ xấu: Xác định  đúng bệnh mới kê toa ảnh 1Nguồn: Wichart.vn

Như vậy việc chuyển đổi nhóm nợ, từ nhóm 4 sang nhóm 5 và ngược lại, sẽ làm bức tranh nợ xấu thay đổi rất nhiều. Thí dụ, NH CTG có sự thay đổi kỳ lạ giữa quý II và III-2021 khi nhìn vào thuyết minh của bảng cân đối kế toán: nợ xấu có khả năng mất vốn từ 12.000 tỷ đồng xuống còn 3.500 tỷ đồng, nợ nghi ngờ từ 1.200 tỷ đồng nhảy vọt lên 11.600 tỷ đồng.

Tuy vậy, nhìn tổng thể ở tổng giá trị 2 nhóm nợ này, mới thấy xu hướng tăng nợ xấu và tiềm ẩn xấu của hệ thống NH qua các NH lớn. Chỉ tính 3 NH lớn nhất niêm yết trên sàn chứng khoán là VCB, BID và CTG, tổng nợ nhóm 4 và 5 đã tăng mạnh từ quý I-2021.

Cụ thể 32.600 tỷ đồng ở quý I, sang quý II là 37.200 tỷ đồng và cuối quý III là 41.600 tỷ đồng. Như vậy quý III-2021 đã tăng so với quý I là 27,6%, một con số đáng quan ngại.

Nợ xấu: Xác định  đúng bệnh mới kê toa ảnh 2


Một chỉ số khác cũng mô tả bức tranh nợ xấu của ngành NH, là dự phòng rủi ro cho vay khách hàng trên Bảng cân đối kế toán. Có thể thấy rõ khoản dự phòng này từ đầu năm 2020, tức từ khi Covid-19 bùng phát đến cuối quý III-2021 đã tăng đáng kể. Các NH lớn tăng trên 60%, như BID và VCB khoảng 80%, VPB 50% và CTG 13%.

Việc tăng dự phòng này được lý giải do NH “cảm nhận” được rủi ro từ khách hàng, và cũng có thể là cách để NH điều chỉnh lợi nhuận trong tương lai, nhưng người viết thiên về lý do đầu hơn.

Xử lý nợ xấu như thế nào?

Hệ thống NH Việt Nam chắc vẫn còn ám ảnh nợ xấu giai đoạn 2012, khi tỷ lệ nợ xấu có lúc lên đến 17%, và một số hệ lụy đến nay vẫn chưa xử lý xong. Những kinh nghiệm đã thành công trong việc xử lý nợ xấu trước đây vẫn còn giá trị, nhưng trong điều kiện nền kinh tế đã có nhiều thay đổi, các giải pháp cũng cần thay đổi để thích ứng.

Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nền kinh tế lớn rất quan tâm đến vấn đề nợ xấu. Và Covid-19 xảy ra đã cho thấy ở đâu có sự chuẩn bị và đề phòng tốt, nợ xấu vẫn trong tầm kiểm soát. Có thể tham khảo trường hợp của EU. Khi tình hình kinh tế có chiều hướng xấu, các NH EU đã tính toán và trích lập dự phòng từ rất sớm.

Cùng với đó rà soát, đánh giá và xác định các khoản vay có nguy cơ chuyển thành nợ xấu. Việc xác định chất lượng tài sản trên bảng cân đối của các NH vì vậy rất quan trọng, điều này đòi hỏi sự minh bạch cũng như việc đánh giá lại thường xuyên chất lượng của các khoản cho vay.

Trong các giải pháp một số hệ thống NH ở EU đã áp dụng, gồm: Thứ nhất, xử lý trực tiếp trên bảng cân đối, tức phải chấp nhận từ bỏ, hay ghi nhận khoản thiệt hại. Điều này thường khó chấp nhận với nhiều NH bởi họ luôn có hy vọng mọi việc sẽ tốt hơn. Nhưng đáng tiếc, trong nhiều trường hợp, càng níu kéo thiệt hại về sau càng lớn. Bởi NH phải dành rất nhiều nguồn lực để xử lý các khoản vay này.

Thứ hai, NH thành lập đơn vị độc lập dạng “in-house” để xử lý các khoản nợ xấu. Đây cũng là cách ở tầm hệ thống các chính phủ lập ra công ty xử lý nợ như Việt Nam đã lập ra VAMC. Khi tách bạch việc xử lý nợ xấu ra khỏi hoạt động chính của NH hay cả hệ thống, sẽ ngăn chặn tính lây lan và sự phát triển của hoạt động chính sẽ quay trở lại giải quyết vấn đề.

Thứ ba, dạng bảo hiểm từ chính phủ, tức NH nào có tỷ lệ nợ xấu cao sẽ trả một khoản phí để đổi lại, nếu nợ xấu không thể thu hồi sẽ được đền bù từ chính phủ. Tuy nhiên, giải pháp này đòi hỏi phải có hệ thống xếp hạng tín nhiệm tốt và có những cân nhắc về chính trị xã hội.

Thứ tư, xử lý nợ xấu dựa vào hoạt động của thị trường mua bán nợ và chứng khoán hóa các khoản nợ xấu. Trường hợp của Italia và Hy Lạp cho thấy việc chứng khoán hóa đem lại nhiều hiệu quả trong việc xử lý nợ xấu. Cụ thể, chương trình HAPS của Hy Lạp năm 2019 và GACS của Italia năm 2016, Chính phủ đứng ra bảo lãnh và thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu, tạo ra công cụ tài chính mới gồm 3 lớp nợ là có đảm bảo (senior), không đảm bảo (junior), và chính giữa (mezzanine).

Như vậy, việc xử lý nợ xấu là có các công cụ hữu hiệu cũng như kinh nghiệm trước đây, nhưng quan trọng hơn hết phải xác định được nợ xấu đúng với thực chất của nó. Nếu không, các giải pháp xử lý sẽ trở nên vô dụng, giống cũng như thuốc tốt mà không trị đúng bệnh.

TS. Võ Đình Trí, trường ĐH Kinh tế TPHCM, IPAG Business School Paris, và AVSE Global

Bài liên quan
Tin bài khác
Sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng gần 200%

Sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng gần 200%

Xuất khẩu sầu riêng và nhiều loại rau quả Việt Nam sang Hàn Quốc tăng mạnh, mở thêm dư địa cho nông sản Việt tại thị trường này.
BNI APAC SME’S EXPO 2026: Điểm hẹn kết nối của hơn 2.000 doanh nhân

BNI APAC SME’S EXPO 2026: Điểm hẹn kết nối của hơn 2.000 doanh nhân

Từ ngày 8-10/10/2026, TP. Hồ Chí Minh sẽ trở thành điểm hẹn kết nối cộng đồng doanh nghiệp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương khi BNI APAC SME’S EXPO 2026 dự kiến quy tụ hơn 2.000 doanh nhân, chủ doanh nghiệp và nhà lãnh đạo kinh doanh, cùng hơn 150 gian hàng triển lãm đến từ nhiều quốc gia.
Chủ động chuẩn hóa quy trình để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Chủ động chuẩn hóa quy trình để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Xanh hóa sản xuất, giảm phát thải và áp dụng ESG không chỉ là xu hướng. Nó trở thành tiêu chuẩn tối ưu hàng đầu, tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh vào đường đua chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.
Xuất khẩu cà phê tăng lượng, doanh nghiệp đẩy mạnh chế biến sâu

Xuất khẩu cà phê tăng lượng, doanh nghiệp đẩy mạnh chế biến sâu

Xuất khẩu cà phê Việt Nam tăng mạnh về lượng nhưng giảm giá trị khi giá thế giới đi xuống, mở ra dư địa lớn cho chế biến sâu.
Du lịch, từ ngành kinh tế mũi nhọn đến động lực tăng trưởng liên ngành

Du lịch, từ ngành kinh tế mũi nhọn đến động lực tăng trưởng liên ngành

Du lịch Việt Nam đang được định hướng là ngành kinh tế mũi nhọn, trọng tâm không đặt ở số lượng khách, mà hướng đến nâng tầm giá trị phát triển liên ngành. Tuy nhiên phía sau mục tiêu đó sẽ là các vấn đề về khai thác tiềm năng, cơ sở hạ tầng, năng lực chủ chốt và kết nối các địa phương.
304MW điện mặt trời trên hồ thủy điện: Một mặt nước, hai mục tiêu khai thác

304MW điện mặt trời trên hồ thủy điện: Một mặt nước, hai mục tiêu khai thác

Dự án Nhà máy điện mặt trời nổi KN Srêpốk 3 có công suất 304 MW, tổng vốn đầu tư khoảng 6.745 tỷ đồng, tận dụng mặt hồ thủy điện Srêpốk 3 để phát triển thêm nguồn điện mà không phải dành toàn bộ quỹ đất cho hệ thống pin.
Doanh nghiệp muốn chuẩn hóa chất lượng dịch vụ du lịch toàn vùng ĐBSCL

Doanh nghiệp muốn chuẩn hóa chất lượng dịch vụ du lịch toàn vùng ĐBSCL

Doanh nghiệp lữ hành kiến nghị chuẩn hóa chất lượng dịch vụ tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ vệ sinh, an toàn đến ngoại ngữ và kỹ năng phục vụ, nhằm tạo trải nghiệm liền mạch cho khách quốc tế từ TP. Hồ Chí Minh về miền Tây.
Bài 16: Du lịch muốn cất cánh, SME phải được khơi thông vốn

Bài 16: Du lịch muốn cất cánh, SME phải được khơi thông vốn

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đã mở ra một không gian phát triển mới cho du lịch Việt Nam. Nhưng để những định hướng lớn trở thành tăng trưởng thực chất, chính sách phải được chuyển hóa thành tín dụng, hạ tầng, dữ liệu, thị trường và cơ hội mà doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể tiếp cận.
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 tăng 7%, đạt gần 49,3 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 tăng 7%, đạt gần 49,3 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 đạt gần 49,3 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ, với rau quả và thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Tây Ninh đón hơn 315.000 lượt khách, doanh thu du lịch tăng gần 80%

Tây Ninh đón hơn 315.000 lượt khách, doanh thu du lịch tăng gần 80%

Trong 5 ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, Tây Ninh đón khoảng 315.600 lượt khách, tăng 51,4% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch ước đạt 278 tỷ đồng, tăng tới 79,4%. Công suất phòng đạt 70-75%, hoạt động du lịch diễn ra ổn định, an toàn.
Du lịch Cà Mau thu 250 tỷ đồng trong 5 ngày nghỉ lễ

Du lịch Cà Mau thu 250 tỷ đồng trong 5 ngày nghỉ lễ

Kỳ nghỉ Quốc khánh 2/9 đã tạo cú hích rõ nét cho du lịch Cà Mau khi tỉnh ước tính đón 210.430 lượt khách, tăng 74,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Du lịch TP. Hồ Chí Minh sôi động, thu gần 4.900 tỷ đồng dịp 2/9

Du lịch TP. Hồ Chí Minh sôi động, thu gần 4.900 tỷ đồng dịp 2/9

Trong 5 ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 (từ ngày 29/8-02/9/2026), TP. Hồ Chí Minh ước đón 62.000 lượt khách quốc tế và 1,65 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 4.900 tỷ đồng. Công suất phòng bình quân toàn Thành phố ước đạt 61%.
TP. Hồ Chí Minh tăng tốc hút FDI, không gian mới mở rộng dư địa đầu tư

TP. Hồ Chí Minh tăng tốc hút FDI, không gian mới mở rộng dư địa đầu tư

Sau 8 tháng năm 2026, TP. Hồ Chí Minh thu hút hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hoàn thành hơn 91% kế hoạch cả năm. Không chỉ gia tăng về quy mô, dòng vốn quốc tế đang đứng trước một không gian phát triển rộng hơn khi công nghiệp, dịch vụ, logistics, cảng biển và hạ tầng công nghệ được kết nối trong cùng một hệ sinh thái.
Du lịch Khánh Hòa đón gần 1,25 triệu lượt khách dịp Quốc khánh

Du lịch Khánh Hòa đón gần 1,25 triệu lượt khách dịp Quốc khánh

Tổng thu từ khách du lịch trong dịp lễ ước đạt 2.100 tỷ đồng. Tổng lượt khách tham quan, nghỉ dưỡng 1.249.000 lượt, trong đó khách lưu trú 357.000 lượt (quốc tế 96.000 lượt; nội địa 261.000 lượt), khách tham quan 892.000 lượt. Công suất buồng phòng bình quân đạt khoảng 86%.
Cà Mau đón 121.500 lượt khách sau 4 ngày Ngày hội Văn hóa di sản

Cà Mau đón 121.500 lượt khách sau 4 ngày Ngày hội Văn hóa di sản

Sau 4 ngày diễn ra (từ ngày 28 – 31/8/2026), Ngày hội Văn hóa di sản và Lễ hội Khinh khí cầu tỉnh Cà Mau lần thứ I năm 2026 thu hút khoảng 121.500 lượt khách, tăng 76,7% so với cùng kỳ năm 2025, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh trong dịp Quốc khánh 2/9.