Các ủy viên thương mại Mỹ đặt vấn đề về lập luận cho rằng thịt cừu nhập khẩu từ Australia gây thiệt hại cho các nhà sản xuất trong nước. Trong khi đó, Đại sứ Australia tại Washington Greg Moriarty cảnh báo việc áp dụng thêm thuế và hạn chế nhập khẩu sẽ chỉ làm tăng chi phí cho người tiêu dùng Mỹ.
Phát biểu tại phiên điều trần của Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (ITC) ở Washington hôm thứ Sáu (16/10), ông Moriarty cho rằng sản lượng thịt cừu của Mỹ đi xuống phản ánh tình trạng suy giảm kéo dài của nguồn cung cừu nuôi trong nước phục vụ giết mổ. Theo ông, sự suy giảm này xuất phát từ các yếu tố ngoài nhập khẩu, gồm hạn hán, việc Chính phủ Mỹ bãi bỏ trợ cấp len, nhu cầu len giảm và đại dịch COVID-19.
ITC đang xem xét liệu thịt cừu nhập khẩu, trong đó có sản phẩm từ Australia, có gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất Mỹ hay không. Quyết định cuối cùng dự kiến được đưa ra vào ngày 13/11.
Báo cáo đề xuất các biện pháp khắc phục có thể áp dụng sẽ được trình lên Tổng thống Mỹ Donald Trump trước ngày 11/1/2027. Sau đó, Tổng thống Mỹ sẽ có hai tháng để quyết định áp dụng các hạn chế mới, bao gồm thuế quan bổ sung.
Hiệp hội Công nghiệp Cừu Mỹ cùng một số nhóm trong nước đang đề nghị áp dụng các biện pháp bảo hộ, với lập luận rằng nhập khẩu gia tăng gây thiệt hại cho các nhà sản xuất nội địa.
![]() |
| Chăn nuôi suy giảm cùng nhiều yếu tố khác tác động tới sản phẩm thịt cừu Mỹ. |
Theo nghiên cứu dài 395 trang do đội ngũ chuyên viên chuẩn bị cho ITC, đàn cừu của Mỹ giảm 145.000 con trong giai đoạn từ tháng 1/2021 đến tháng 1/2025.
Trong khi đó, số liệu riêng của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy xu hướng suy giảm kéo dài hơn: đàn cừu giảm từ 13,3 triệu con năm 1976 xuống 4,99 triệu con năm 2026. Theo nghiên cứu, quy mô đàn cừu hiện nay chỉ tương đương khoảng 3/8 mức của 50 năm trước.
Phân tích do Giáo sư kinh tế Rodney Ludema của Đại học Georgetown và Giáo sư kinh tế Thomas Prusa của Đại học Rutgers đệ trình lên ITC cho rằng hạn hán giải thích 73,1% biến động giá thịt cừu bán buôn tại Mỹ, trong khi nhập khẩu chỉ giải thích 1,8%.
Trong giai đoạn 2021-2025, tỷ trọng thịt cừu nhập khẩu trong tổng lượng tiêu thụ tại Mỹ tăng từ 72,4% lên 78,9%. Theo Trung tâm Thông tin Tiếp thị Chăn nuôi, Australia chiếm 75% tổng lượng thịt cừu nhập khẩu của Mỹ năm 2025.
![]() |
| Một sản phẩm thịt cừu Australia trên kệ hàng siêu thị Mỹ. |
Tại phiên điều trần, ông Moriarty khẳng định thịt cừu nhập khẩu từ Australia chỉ bù đắp thiếu hụt nguồn cung do sản lượng trong nước suy giảm, không gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa Mỹ.
Để lý giải việc không có quan hệ nhân quả giữa nhập khẩu và sự suy giảm sản lượng trong nước, ông dẫn chứng nhiều giai đoạn trong 30 năm qua khi cả hai cùng giảm. Theo ông, điều này cho thấy sản lượng nội địa không cải thiện ngay cả khi nhập khẩu đi xuống.
Ông Moriarty cho rằng thay vì gây thiệt hại, nhập khẩu tạo nguồn cung ổn định, giúp duy trì và phát triển thị trường thịt cừu Mỹ. Nguồn cung này, theo ông, cần thiết để thịt cừu tiếp tục hiện diện trên các kệ siêu thị, thực đơn nhà hàng và trong bữa ăn của người Mỹ.
Tại phiên điều trần, một số ủy viên đặt câu hỏi liệu nhập khẩu có gây thiệt hại nghiêm trọng hay không. Theo Đạo luật Thương mại, tiêu chí này được hiểu là sự suy giảm đáng kể về tổng thể đối với vị thế của một ngành sản xuất trong nước.
Số liệu của Trung tâm Thông tin Tiếp thị Chăn nuôi cho thấy Australia là nguồn cung của 75% lượng thịt cừu Mỹ nhập khẩu trong năm 2025.
Ủy viên Jason Kearns thừa nhận xu hướng suy giảm kéo dài của đàn cừu Mỹ. Ông đánh giá những người được hỏi đã đưa ra lập luận khá thuyết phục rằng quy mô đàn cừu giảm từ những năm 1940.
Ông Kearns cũng lưu ý rằng trong 49 nhà sản xuất Mỹ trả lời bảng câu hỏi của ITC, 31 nhà sản xuất nhỏ cho biết không chịu thiệt hại từ thịt cừu nhập khẩu, trong khi 7 nhà sản xuất nhỏ coi nhập khẩu là một yếu tố gây thiệt hại. Với nhóm nhà sản xuất lớn, 5 đơn vị báo cáo chịu thiệt hại và 4 đơn vị cho biết không chịu thiệt hại.
Như vậy, 35 trong số 49 nhà sản xuất được hỏi cho biết không chịu thiệt hại do nhập khẩu.
Từ kết quả này, ông Kearns đặt vấn đề ITC sẽ dung hòa các câu trả lời ra sao với yêu cầu pháp lý rằng nhập khẩu phải là nguyên nhân chính gây thiệt hại.
Ủy viên Samuel Negatu đặt câu hỏi cần bao nhiêu doanh nghiệp hoạt động thua lỗ để đáp ứng tiêu chí pháp định về thiệt hại nghiêm trọng, nhưng không nhận được câu trả lời rõ ràng.
Luật sư thương mại quốc tế Paul Rosenthal, đại diện các nhà sản xuất thịt cừu Mỹ, cho rằng việc xác định thiệt hại nghiêm trọng là vấn đề có thể nhận biết khi xem xét thực tế.
Ông Rosenthal cho biết đây là toàn bộ lý giải ông có thể đưa ra, đồng thời dẫn lời khai rằng một số doanh nghiệp không có lợi nhuận ròng trong suốt thời kỳ điều tra. Theo ông, pháp luật không cung cấp hướng dẫn nào khác ngoài cơ sở này.
Về phía Australia, ông Moriarty lập luận rằng nhập khẩu giúp duy trì khả năng hoạt động của thị trường và thúc đẩy tiêu thụ thịt cừu tại Mỹ, qua đó mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất Mỹ.
Ông cho rằng việc người Mỹ tiêu thụ nhiều thịt cừu hơn có lợi cho ngành sản xuất của cả hai nước, trong khi nhập khẩu được dự báo sẽ giảm. Ông cảnh báo bất kỳ biện pháp hạn chế nhập khẩu thịt cừu nào cũng sẽ làm tăng chi phí cho người tiêu dùng Mỹ, thu hẹp nguồn cung và có nguy cơ đảo ngược đà tăng ổn định của nhu cầu, gây bất lợi cho ngành sản xuất Mỹ.
Ông Moriarty nhấn mạnh quan hệ kinh tế hai nước được củng cố bởi Hiệp định Thương mại Tự do Australia-Mỹ. Theo ông, hàng hóa Mỹ được tiếp cận thị trường Australia miễn thuế và Mỹ đã ghi nhận thặng dư thương mại lũy kế 442 tỷ USD kể từ khi hiệp định có hiệu lực.
Theo ông Moriarty, Mỹ duy trì thặng dư thương mại với Australia hằng năm từ thời chính quyền Truman, bắt đầu vào đầu những năm 1950. Năm 2025, Mỹ đạt thặng dư thương mại 18,5 tỷ USD với Australia, đứng thứ 6 trong số các mức thặng dư của Mỹ với các đối tác thương mại.
