![]() |
| Mua hàng trả góp được khấu trừ thuế GTGT ngay |
Khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp khi chưa đến kỳ phải thanh toán. Vướng mắc kéo dài gần 12 tháng bắt nguồn từ đâu?
Gần 12 tháng kể từ khi Nghị định 181/2025/NĐ-CP có hiệu lực ngày 01/7/2025, một bộ phận kế toán doanh nghiệp vẫn thực hiện chưa đúng một nghiệp vụ quen thuộc: không khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp khi chưa đến kỳ phải thanh toán. Hệ quả là dòng tiền doanh nghiệp bị thắt hẹp không cần thiết, trong khi quy định pháp luật hoàn toàn cho phép làm ngược lại.
Trước ngày 01/7/2025, Luật Thuế GTGT cũ quy định chỉ giao dịch từ 20 triệu đồng trở lên mới cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế đầu vào. Khi Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 có hiệu lực, ngưỡng đó bị bãi bỏ, thay bằng quy định mới: Giao dịch mua từ 5 triệu đồng trở lên cần chứng từ chuyển khoản, trừ các trường hợp đặc thù do Chính phủ quy định.
Sự thay đổi này tạo ra tình huống chưa có tiền lệ với hàng loạt hợp đồng mua hàng trả chậm, trả góp đang lưu hành: khi nhận hàng và nhận hóa đơn, doanh nghiệp chưa chuyển khoản vì chưa đến hạn thanh toán, vậy có được khấu trừ thuế đầu vào không? Không ít kế toán chọn cách an toàn là chờ đến khi có chứng từ chuyển khoản thực tế mới hạch toán. Cách làm đó không vi phạm pháp luật, nhưng chưa đúng quy định đang có hiệu lực và khiến doanh nghiệp tự thiệt hại về dòng tiền.
Theo điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, được giải đáp chính thức tại Hệ thống Hỏi đáp Chính sách thuế của Bộ Tài chính (portal.mof.gov.vn - số hỏi đáp 157371, 157894): đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp từ 05 triệu đồng trở lên, nếu chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, doanh nghiệp vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Quy định này đã có từ ngày 01/7/2025, không phải từ tháng 6/2026.
| Giai đoạn | Quy định áp dụng |
| Trước 01/7/2025 | Giao dịch dưới 20 triệu đồng không cần chứng từ chuyển khoản. Hàng trả chậm trên 20 triệu chỉ được khấu trừ khi có chứng từ thanh toán thực tế. |
| 01/7/2025 – 19/6/2026 | Ngưỡng giảm xuống 5 triệu đồng. Riêng hàng trả chậm, trả góp: được khấu trừ ngay khi chưa đến hạn thanh toán nếu có hợp đồng văn bản và hóa đơn GTGT hợp lệ (Nghị định 181/2025/NĐ-CP, điểm g khoản 2 Điều 26). |
| Từ 20/6/2026 | Nghị định 144/2026/NĐ-CP làm rõ và hoàn thiện cơ chế, bổ sung quy định về điều chỉnh giảm và khôi phục quyền khấu trừ khi bổ sung chứng từ sau hạn. |
Cơ chế áp dụng theo quy định hiện hành - Ba bước thực hiện
Điều 4 Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định cụ thể. (Nguồn: Toàn văn Nghị định 144/2026/NĐ-CP - Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, xaydungchinhsach.chinhphu.vn, ngày 08/5/2026.)
Bước 1 - Khấu trừ ngay khi nhận hàng: Khi nhận hàng và có đủ hai điều kiện là hợp đồng mua hàng bằng văn bản và hóa đơn GTGT hợp lệ, doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đầu vào trong kỳ kê khai thuế tương ứng, dù chưa chuyển khoản thanh toán.
Bước 2 - Điều chỉnh giảm khi đến hạn mà chưa có chứng từ: Khi đến hạn thanh toán từng đợt theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, nếu không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp phải kê khai điều chỉnh giảm phần thuế GTGT đầu vào tương ứng trong kỳ tính thuế phát sinh hạn thanh toán đó.
Bước 3 - Khấu trừ lại khi bổ sung chứng từ: Sau khi đã điều chỉnh giảm, nếu doanh nghiệp bổ sung được chứng từ chuyển khoản hợp lệ, được kê khai khấu trừ lại số thuế tương ứng trong kỳ tính thuế phát sinh chứng từ đó.
| "Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt" là gì? Đó là bằng chứng thanh toán qua ngân hàng như: ủy nhiệm chi, giấy báo Nợ, sao kê tài khoản thể hiện giao dịch chuyển tiền, hoặc biên lai chuyển khoản từ ứng dụng ngân hàng hợp lệ theo Nghị định 52/2024/NĐ-CP. Lưu ý: nộp tiền mặt trực tiếp vào tài khoản của bên bán không được coi là thanh toán không dùng tiền mặt. |
Ví dụ minh hoạCông ty A ký hợp đồng mua thiết bị văn phòng trị giá 200 triệu đồng chưa gồm thuế GTGT (thuế GTGT = 20 triệu đồng). Hợp đồng bằng văn bản, thanh toán hai đợt: đợt một 100 triệu đồng khi nhận hàng tháng 8/2025, đợt hai 100 triệu đồng vào tháng 2/2026. Nhà cung cấp xuất một hóa đơn GTGT cho toàn bộ hợp đồng khi giao hàng. Tháng 8/2025 - Khi nhận hàng: Có đủ hóa đơn GTGT và hợp đồng văn bản → Công ty A được khấu trừ toàn bộ 20 triệu đồng thuế GTGT đầu vào khi kê khai tờ khai thuế GTGT kỳ tháng 8/2025 (hoặc quý 3/2025), dù đợt thanh toán tháng 2/2026 chưa đến hạn. Tháng 2/2026 - Đến hạn đợt 2: Nếu công ty A chuyển khoản đủ 100 triệu và có biên lai chuyển khoản → Không cần thực hiện thêm bước thuế nào. Nếu chưa chuyển khoản → Phải điều chỉnh giảm 10 triệu đồng thuế GTGT đầu vào trong kỳ kê khai tháng 2/2026 (hoặc quý 1/2026). Sau khi bổ sung chứng từ: Công ty A chuyển khoản xong và có chứng từ hợp lệ → Được kê khai khấu trừ lại 10 triệu đồng trong kỳ phát sinh chứng từ đó. Nếu kế toán chờ đến tháng 2/2026 mới khấu trừ toàn bộ 20 triệu đồng, công ty đã bị hụt 20 triệu trong vốn lưu động suốt 6 tháng, thiệt hại về dòng tiền hoàn toàn có thể tránh được. |
Lĩnh vực bảo hiểm: Theo Điều 1 Nghị định 144/2026/NĐ-CP, từ ngày 20/6/2026, các loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học; bảo hiểm nông nghiệp (vật nuôi, cây trồng); bảo hiểm tàu thuyền phục vụ đánh bắt thủy sản; tái bảo hiểm; và bảo hiểm công trình dầu khí được bổ sung vào nhóm không chịu thuế GTGT. Doanh nghiệp bảo hiểm và đại lý bảo hiểm cần rà soát lại việc xuất hóa đơn cho các sản phẩm này trước ngày 20/6/2026.
Tỷ lệ phân bổ thuế GTGT đầu vào: Theo Điều 2 Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, tổng doanh thu dùng để tính tỷ lệ phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bao gồm cả doanh thu hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng, công ty bảo hiểm, doanh nghiệp chứng khoán và các doanh nghiệp có cơ cấu doanh thu hỗn hợp.
Hiểu lầm 1: Phải chờ thanh toán xong mới được khấu trừ: Đây là hiểu lầm phổ biến nhất. Quy định từ 01/7/2025 đã cho phép khấu trừ ngay khi nhận hàng nếu có đủ hợp đồng văn bản và hóa đơn GTGT hợp lệ. Cách làm sai không vi phạm pháp luật nhưng khiến doanh nghiệp tự từ bỏ quyền lợi về dòng tiền.
Hiểu lầm 2: Nghị định 144/2026 tạo ra quyền mới từ 20/6/2026: Quyền khấu trừ thuế đầu vào hàng trả chậm trả góp khi chưa đến hạn thanh toán đã được ghi rõ tại điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP từ ngày 01/7/2025. Nghị định 144/2026 làm rõ và hoàn thiện quy định đó, không phải điểm khởi đầu mới.
Hiểu lầm 3: Thuế điều chỉnh giảm thì mất vĩnh viễn: Không phải vậy. Sau khi đã điều chỉnh giảm, nếu doanh nghiệp bổ sung được chứng từ chuyển khoản hợp lệ thì được kê khai khấu trừ lại trong kỳ phát sinh chứng từ đó (Nghị định 144/2026/NĐ-CP).
Rủi ro pháp lý cần đề phòngRủi ro 1: Quên điều chỉnh giảm đúng kỳ: Khi đến hạn thanh toán mà không có chứng từ chuyển khoản, nếu doanh nghiệp không tự điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào trong kỳ tính thuế đó, cơ quan thuế khi kiểm tra sẽ xác định đây là khai sai, dẫn đến truy thu thuế, phạt vi phạm hành chính và lãi chậm nộp tính từ kỳ vi phạm. Rủi ro 2: Lĩnh vực bảo hiểm xuất hóa đơn sai thuế suất: Từ 20/6/2026, nếu vẫn thu thuế GTGT từ khách hàng đối với sản phẩm thuộc nhóm mới bổ sung vào danh mục không chịu thuế, sẽ phải làm thủ tục điều chỉnh hóa đơn và hoàn trả chênh lệch cho khách hàng. |
Việc 1: Rà soát hợp đồng trả chậm trả góp đang còn hiệu lực: Với mỗi hợp đồng, xác định: đã nhận hàng chưa, hóa đơn GTGT đã có chưa, chứng từ thanh toán từng đợt đã có chưa và hạn thanh toán đợt tiếp theo là ngày nào. Nếu phát hiện đã nhận hàng và có hóa đơn từ tháng 7/2025 đến nay nhưng chưa thực hiện quyền khấu trừ, cần đánh giá kỹ với chuyên gia thuế. Việc kê khai bổ sung cho các kỳ đã qua có thể phát sinh lãi chậm nộp, doanh nghiệp nên làm việc trực tiếp với cơ quan thuế địa phương để có hướng xử lý chính xác trước khi tự điều chỉnh.
Việc 2: Xây dựng bảng theo dõi hợp đồng trả chậm trả góp: Bảng theo dõi cần ghi đầy đủ: tên nhà cung cấp, số hợp đồng, số hóa đơn GTGT, giá trị thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ, ngày đến hạn từng đợt thanh toán và trạng thái chứng từ chuyển khoản của từng đợt. Mỗi khi gần đến hạn thanh toán, kế toán kiểm tra bảng này và xử lý trước khi kỳ kê khai kết thúc. Đây là biện pháp đơn giản nhất để tránh rủi ro bỏ sót điều chỉnh giảm.
Việc 3: Dành riêng cho doanh nghiệp bảo hiểm: Rà soát danh mục sản phẩm đang xuất hóa đơn GTGT, đối chiếu với Điều 1 Nghị định 144/2026/NĐ-CP để điều chỉnh trước ngày 20/6/2026.
Trong bối cảnh hệ thống pháp luật thuế đang được hoàn thiện liên tục, chủ động tra cứu và xác nhận với cơ quan có thẩm quyền luôn là lựa chọn an toàn hơn tự diễn giải theo cách hiểu riêng.
Thông tin pháp lý
|