Thứ năm 30/04/2026 10:08
Hotline: 024.355.63.010
Pháp luật

Một số quy định pháp luật về ngôn ngữ hợp đồng

22/02/2021 10:35
Bài viết này dẫn chiếu một số quy định pháp luật Việt Nam về ngôn ngữ hợp đồng nhằm giúp doanh nghiệp nắm bắt và vận dụng đúng quy định pháp luật, nhận diện rủi ro có thể xảy ra, có được giao dịch hiệu quả hơn.
(Ảnh: Internet)

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015, Luật Thương mại 2005 không có quy định về ngôn ngữ hợp đồng. Có thể hiểu là các bên ký kết có thể tự lựa chọn ngôn ngữ hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định riêng về ngôn ngữ hợp đồng. Tuy nhiên, tại Điều 404 của Bộ luật Dân sự có quy định về ngôn từ trong giải thích hợp đồng, cụ thể như sau:

“1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.

2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp đồng.

3. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.

4. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.

5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.

6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.

Một số quy định của luật chuyên ngành về ngôn ngữ hợp đồng:

Nghị định 37/2015/NĐ-CP hướng dẫn về hợp đồng xây dựng,áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc xác lập và quản lý thực hiện hợp đồng xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng (bao gồm cả hợp đồng xây dựng giữa nhà đầu tư thực hiện dự án BOT, BTO, BT và PPP với nhà thầu thực hiện các gói thầu của dự án) sau phải áp dụng hệ thống pháp luật Việt nam, ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng xây dựng là tiếng Việt, đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và tiếng nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn; trường hợp không thỏa thuận được thì sử dụng tiếng Anh:

a) Dự án đầu tư xây dựng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập;

b) Dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp nhà nước;

c) Dự án đầu tư xây dựng không thuộc quy định tại Điểm a, b Khoản này có sử dụng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án;

Nghị định này chỉ khuyến khích các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng xây dựng thuộc các dự án đầu tư xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác áp dụng quy định tại Nghị định này, không bắt buộc thực hiện. Đối với hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có những quy định khác với các quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo các quy định của Điều ước quốc tế đó.

Về ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng tư vấn xây dựng quy định tại tại điều 4 Thông tư 08/2016/TT-BXD và ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng thi công công trình xây dựng quy định tại khoản 3.2 điều 3 Thông tư 09/2016/TT-BXD ngày 10/03/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn hợp đồng thi công xây dựng công trình, đối với các đối tượng áp dụng tương tự như phạm vi áp dụng tại Nghị định 37/2015/NĐ-CP nêu trên, hai loại hợp đồng này chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật của Việt Nam, ngôn ngữ của hợp đồng được thể hiện bằng tiếng Việt, trường hợp hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và tiếng nước ngoài do các bên thỏa thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì sử dụng tiếng Anh (các bên thỏa thuận ngôn ngữ sử dụng trong quá trình giao dịch hợp đồng và thứ tự ưu tiên sử dụng ngôn ngữ để giải quyết tranh chấp hợp đồng, nếu có).

Khoản 2 Điều 9 Luật Bưu chính năm 2010 quy định hợp đồng trong cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính giao kết bằng văn bản phải được lập bằng tiếng Việt; nếu các bên có thỏa thuận sử dụng thêm ngôn ngữ khác thì văn bản bằng tiếng Việt và văn bản bằng ngôn ngữ khác có giá trị pháp lý như nhau.

Về ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng: Khoản 2 Điều 14 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 quy định:“Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng là tiếng Việt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Cũng theo Luật Bảo vệ người tiêu dùng, với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Danh mục 12 loại hợp đồng mẫu được ban hành kèm theo Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: 1. Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt; 2. Hợp đồng cung cấp nước sinh hoạt; 3. Hợp đồng cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền; 4. Hợp đồng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định mặt đất; 5. Hợp đồng cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán: trả sau); 6. Hợp đồng cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán: trả trước); 7. Hợp đồng cung cấp dịch vụ truy nhập internet; 8. Hợp đồng cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách đường hàng không; 9. Hợp đồng cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách đường sắt; 10. Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp; 11. Hợp đồng phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng); 12. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

Về ngôn ngữ tố tụng tại Tòa án: Tiếng Việt là bắt buộc. Điều 20 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng dân sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này cần phải có người phiên dịch”.

Về ngôn ngữ sử dụng trong trọng tài thương mại: Điều 10 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định: “1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt; 2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định”.

Tham khảo quy định về ngôn ngữ tố tụng trọng tài trong quy tắc tố tụng trọng tài của 15 trung tâm trọng tài được thành lập và đang hoạt động tại Việt Nam hiện nay, hầu hết đều quy định đối với vụ tranh chấp không có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ trọng tài là tiếng Việt. Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc vụ tranh chấp trong đó có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì ngôn ngữ trọng tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận, Hội đồng Trọng tài quyết định ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài, có tính đến các yếu tố có liên quan bao gồm ngôn ngữ của hợp đồng; trường hợp, một tài liệu được lập bằng ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ trọng tài thì Hội đồng Trọng tài hoặc Trung tâm, nếu Hội đồng Trọng tài chưa được thành lập, có thể yêu cầu một bên hoặc các bên cung cấp bản dịch. Các bên có thể tự thuê phiên dịch hoặc yêu cầu Trung tâm cung cấp phiên dịch và phải trả chi phí.

Về ngôn ngữ sử dụng trong văn bản giao dịch với cơ quan thuế Việt Nam: Khoản 4 Điều 5 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính quy định ngôn ngữ được sử dụng trong hồ sơ thuế là tiếng Việt. Tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt. Người nộp thuế ký tên, đóng dấu trên bản dịch và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung bản dịch. Trường hợp tài liệu bằng tiếng nước ngoài có tổng độ dài hơn 20 trang giấy A4 thì người nộp thuế có văn bản giải trình và đề nghị chỉ cần dịch những nội dung, điều khoản có liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế.

Đối với hồ sơ Thông báo thuộc diện miễn, giảm thuế theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì tuỳ vào tính chất của từng loại hợp đồng và yêu cầu của cơ quan thuế (nếu có), người nộp thuế cần dịch những nội dung trong hợp đồng như: tên hợp đồng, tên các điều khoản trong hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng hoặc thời gian thực tế chuyên gia của nhà thầu nước ngoài hiện diện tại Việt Nam (nếu có), trách nhiệm, cam kết của mỗi bên; các quy định về bảo mật và quyền sở hữu sản phẩm (nếu có), đối tượng có thẩm quyền ký kết hợp đồng, các nội dung có liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế và các nội dung tương tự (nếu có); đồng thời gửi kèm theo bản chụp hợp đồng có xác nhận của người nộp thuế.

Việc hợp pháp hóa lãnh sự đối với các giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp chỉ bắt buộc trong trường hợp cụ thể hướng dẫn tại Điều 16, Điều 20, Điều 44, Điều 54 Thông tư này.

Về ngôn ngữ sử dụng trong kế toán: Khoản 1 Điều 11 Luật Kế toán năm 2015 quy định:“Chữ viết sử dụng trong kế toán là tiếng Việt. Trường hợp phải sử dụng tiếng nước ngoài trên chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính tại Việt Nam thì phải sử dụng đồng thời tiếng Việt và tiếng nước ngoài”.

Về ngôn ngữ sử dụng trong hóa đơn hàng hóa, cung ứng dịch vụ: điểm k) khoản 1 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC quy định: “k) Hóa đơn được thể hiện bằng tiếng Việt. Trường hợp cần ghi thêm chữ nước ngoài thì chữ nước ngoài được đặt bên phải trong ngoặc đơn ( ) hoặc đặt ngay dưới dòng tiếng Việt và có cỡ nhỏ hơn chữ tiếng Việt”.

Theo Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, tại điều 10 quy định: “1. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được lập bằng tiếng Việt; 2. Trường hợp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì hồ sơ phải có bản dịch tiếng Việt công chứng kèm theo tài liệu bằng tiếng nước ngoài; 3. Trường hợp giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được làm bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp”.

Ngôn ngữ trong “Biên bản họp đại hội đồng cổ đông”; “Biên bản họp Hội đồng quản trị” của công ty cổ phần: Khoản 1 và Khoản 4 Điều 150 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:“1. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông phải được ghi biên bản và có thể ghi âm hoặc ghi và lưu giữ dưới hình thức điện tử khác. Biên bản phải lập bằng tiếng Việt, có thể lập thêm bằng tiếng nước ngoài”; và “4. Biên bản lập bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài có hiệu lực pháp lý như nhau. Trường hợp có sự khác nhau về nội dung giữa biên bản bằng tiếng Việt và bằng tiếng nước ngoài thì nội dung trong biên bản bằng tiếng Việt được áp dụng”.

Khoản 1 và Khoản 5 Điều 158 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “1. Các cuộc họp Hội đồng quản trị phải được ghi biên bản và có thể ghi âm, ghi và lưu giữ dưới hình thức điện tử khác. Biên bản phải lập bằng tiếng Việt và có thể lập thêm bằng tiếng nước ngoài”; và “5. Biên bản lập bằng tiếng Việt và bằng tiếng nước ngoài có hiệu lực pháp lý như nhau. Trường hợp có sự khác nhau về nội dung giữa biên bản bằng tiếng Việt và bằng tiếng nước ngoài thì nội dung trong biên bản bằng tiếng Việt được áp dụng”.

Luật sư Bùi Văn Thành – Trưởng văn phòng luật sư Mặt Trời Mới

Tin bài khác
Bị xuyên tạc quấy rối trên mạng, chủ cửa hàng xe nhờ pháp luật can thiệp

Bị xuyên tạc quấy rối trên mạng, chủ cửa hàng xe nhờ pháp luật can thiệp

Chủ cửa hàng xe máy hai thì ở Cần Thơ đang suy kiệt về tinh thần và kinh tế khi liên tục bị một số nhóm trên Facebook và Tiktok dùng nick ẩn danh để xuyên tạc quấy rối cá nhân, gia đình và cửa hàng. Anh mong sớm được cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ để đảm bảo tính công minh của pháp luật hiện hành…
Hải Phòng: Áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với đại diện doanh nghiệp nợ thuế

Hải Phòng: Áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với đại diện doanh nghiệp nợ thuế

Cơ quan Thuế TP. Hải Phòng vừa chính thức đề nghị tạm hoãn xuất cảnh đối với hai giám đốc doanh nghiệp trên địa bàn do chưa hoàn thành các nghĩa vụ nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước.
Thanh Hóa: Công ty TNHH Hai thành viên miền Trung Nam thành phố nợ thuế hơn 164 tỷ đồng

Thanh Hóa: Công ty TNHH Hai thành viên miền Trung Nam thành phố nợ thuế hơn 164 tỷ đồng

Thực hiện công tác quản lý và công khai thông tin nợ thuế theo quy định, Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Thông báo số 2679/TB-THO về việc công bố danh tính các cá nhân, đơn vị chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước tính đến thời điểm 31/03/2026.
Lộ lỗ hổng kiểm soát hàng không rõ nguồn gốc trên sàn thương mại điện tử

Lộ lỗ hổng kiểm soát hàng không rõ nguồn gốc trên sàn thương mại điện tử

Vụ việc phát hiện đường dây đóng gói, tiêu thụ táo đỏ và kỷ tử không rõ xuất xứ qua TikTok Shop và Shopee tiếp tục đặt ra áp lực lớn đối với việc siết quản lý hàng hóa trên sàn thương mại điện tử, trong bối cảnh cơ quan chức năng yêu cầu tăng trách nhiệm pháp lý nhằm ngăn chặn thực phẩm rủi ro đến tay người tiêu dùng.
Khởi tố thêm 2 bị can trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Dự án Hoàng Gia

Khởi tố thêm 2 bị can trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Dự án Hoàng Gia

Đến nay, Cơ quan An ninh Điều tra (ANĐT) Công an tỉnh Đắk Lắk đã khởi tố 3 bị can trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Dự án Hoàng Gia. Vụ án đang được Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Đắk Lắk điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đà Nẵng mở chuyên án dẹp “vàng tặc”: Quyết xóa nạn khai thác vàng trái phép kéo dài

Đà Nẵng mở chuyên án dẹp “vàng tặc”: Quyết xóa nạn khai thác vàng trái phép kéo dài

Sau nhiều năm dai dẳng, nạn “vàng tặc” tại các khu vực rừng núi xã Thạnh Bình, TP. Đà Nẵng đang bị đưa vào diện xử lý trọng điểm khi lãnh đạo thành phố yêu cầu Cơ quan ông an lập chuyên án, truy quét toàn diện, xử lý nghiêm các đối tượng cầm đầu, bảo kê và chấm dứt tình trạng thất thoát tài nguyên, hủy hoại môi trường kéo dài.
Sai ký hiệu bảo hộ, doanh nghiệp đối mặt rủi ro pháp lý ngay từ khâu nhãn hàng hóa

Sai ký hiệu bảo hộ, doanh nghiệp đối mặt rủi ro pháp lý ngay từ khâu nhãn hàng hóa

Một chi tiết nhỏ trên bao bì nhưng có thể kéo theo hệ lụy lớn: việc sử dụng sai ký hiệu bảo hộ nhãn hiệu đang trở thành điểm nghẽn pháp lý đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cảnh báo mới từ cơ quan hải quan cho thấy yêu cầu minh bạch thông tin đang được siết chặt, tác động trực tiếp đến quá trình thông quan và lưu thông hàng hóa.
Cảnh báo rủi ro rửa tiền trong kinh doanh kim khí quý, đá quý

Cảnh báo rủi ro rửa tiền trong kinh doanh kim khí quý, đá quý

Lĩnh vực kinh doanh kim khí quý, đá quý đang được cảnh báo tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng cho hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố do đặc thù giao dịch giá trị lớn, tính ẩn danh cao. Việc nâng cao năng lực tuân thủ và hoàn thiện khung pháp lý được xem là giải pháp trọng tâm nhằm kiểm soát rủi ro trong bối cảnh hội nhập tài chính ngày càng sâu rộng.
Phòng, chống rửa tiền trong kinh doanh bất động sản: Nhận diện rủi ro

Phòng, chống rửa tiền trong kinh doanh bất động sản: Nhận diện rủi ro

Trong bối cảnh yêu cầu minh bạch hóa thị trường ngày càng cao, công tác phòng, chống rửa tiền đang trở thành vấn đề trọng tâm, đặc biệt đối với lĩnh vực bất động sản – nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro do đặc thù giao dịch giá trị lớn, phương thức thanh toán đa dạng và tính thanh khoản cao.
UBCKNN "bêu tên" hai doanh nghiệp vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán

UBCKNN "bêu tên" hai doanh nghiệp vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán

Mới đây, Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành quyết định xử phạt hai doanh nghiệp với tổng số tiền hàng trăm triệu đồng. Sai phạm về công bố thông tin và cơ cấu quản trị tiếp tục bị siết chặt.
Chống thuốc lá lậu: Siết từ xã phường, chặn từ gốc thay vì “đuổi theo”

Chống thuốc lá lậu: Siết từ xã phường, chặn từ gốc thay vì “đuổi theo”

Hơn 10 năm chống buôn lậu thuốc lá, hàng chục nghìn vụ bị xử lý nhưng thị trường vẫn chưa yên. Khi thuế dự kiến tăng mạnh, nguy cơ buôn lậu quay lại, bài toán không còn là bắt lẻ mà phải chặn từ gốc – bắt đầu từ cấp xã, phường.
Trốn thuế 8,6 tỷ đồng: Doanh nghiệp có thể vướng rủi ro thuế từ hóa đơn thế nào?

Trốn thuế 8,6 tỷ đồng: Doanh nghiệp có thể vướng rủi ro thuế từ hóa đơn thế nào?

Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an TP. Đà Nẵng vừa khởi tố, bắt tạm giam một đối tượng liên quan vụ án “mua bán trái phép hóa đơn” xảy ra trong giai đoạn 2022–2024 tại Quảng Nam (cũ), với hành vi được xác định trốn thuế hơn 8,6 tỷ đồng.
Hé lộ chuỗi sai phạm kéo dài hơn một thập kỷ tại dự án Usilk City

Hé lộ chuỗi sai phạm kéo dài hơn một thập kỷ tại dự án Usilk City

Từ một dự án từng được kỳ vọng trở thành khu đô thị hiện đại, Usilk City nay trở thành điển hình của sai phạm kéo dài, đồng thời phản ánh những lỗ hổng trong quản lý bất động sản suốt nhiều năm.
Đà Nẵng: Bắt vụ vận chuyển 880 lít dầu qua biên giới

Đà Nẵng: Bắt vụ vận chuyển 880 lít dầu qua biên giới

Một vụ vận chuyển trái phép gần 880 lít dầu diesel vừa bị phát hiện tại Đà Nẵng tiếp tục gióng lên cảnh báo về tình trạng buôn lậu xăng dầu, lĩnh vực đang được Chính phủ và các bộ ngành tăng cường kiểm soát bằng nhiều giải pháp pháp lý và thực thi.
Phạt 75 triệu đồng, buộc tiêu hủy 37 sản phẩm mỹ phẩm vi phạm của Công ty BB Việt Nam

Phạt 75 triệu đồng, buộc tiêu hủy 37 sản phẩm mỹ phẩm vi phạm của Công ty BB Việt Nam

Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) vừa xử phạt hành chính 75 triệu đồng đối với Công ty TNHH Thương mại dịch vụ BB Việt Nam do vi phạm quy định về hồ sơ pháp lý mỹ phẩm. Đồng thời, doanh nghiệp bị buộc thu hồi, tiêu hủy 37 sản phẩm liên quan đến nhiều thương hiệu quen thuộc trên thị trường.