![]() |
| Giá thép hôm nay 29/7/2026: Quặng sắt Đại liên giảm phiên thứ 3 liên tiếp |
Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 8h30 ngày 29/7/2026, giá thép hôm nay cập nhật từ SteelOnline.vn, giá thép tại khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam ổn định, hiện giá thép dao động từ 14.440 - 15.150 đồng/kg cho các sản phẩm như CB240 và D10 CB300.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.750 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 15.120 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.120 đồng/kg.
Thép Việt Sing: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép Việt Ý: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.850 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240cógiá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá giá 14.640 đồng/kg.
Thép Việt Đức: Thép cuộn CB240 có giá 15.150 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.050 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.850 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép Hòa Phát: Thép cuộn CB240 có giá 14.920 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.
Thép VAS: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.640 đồng/kg.
Thép TungHo: Thép cuộn CB240 có giá 14.750 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.440 đồng/kg.
![]() |
| Vào lúc 8h30 (giờ Việt Nam) ngày 29/7, trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá thép thanh hiện đang giao dịch ở mức 3.059CNY/tấn. |
Thị trường thép và quặng sắt kỳ hạn tiếp tục chịu đòn ép từ tình trạng dư cung toàn cầu và động thái thu hẹp sản xuất tại Trung Quốc. Chốt phiên 28/7, các sàn giao dịch lớn ghi nhận mức biến động trái chiều nhưng xu hướng chung vẫn là đi xuống.
Tại sàn Thượng Hải, giá thép thanh giao tháng 8/2026 mất 8 Nhân dân tệ/tấn, tương ứng mức giảm 0,26%, lùi về 3.043 Nhân dân tệ/tấn. Cùng chiều suy yếu, hợp đồng quặng sắt tháng 8 trên sàn Đại Liên mất 0,41%, tương đương 3 Nhân dân tệ/tấn, chốt ở mức 736,5 Nhân dân tệ/tấn và tiệm cận vùng đáy 3 tuần qua. Trái lại, sàn Singapore ghi nhận quặng sắt cùng kỳ hạn nhích nhẹ 0,07%, lên 97,90 USD/tấn.
Áp lực giảm giá chủ yếu xuất phát từ đống tồn kho phình to. Lượng quặng sắt neo tại các cảng biển Trung Quốc duy trì ở mức rất cao, trong khi dự trữ tại các cơ sở chế biến tuần qua tăng thêm 8%. Giới đầu tư hiện dồn sự chú ý vào các thông điệp chính sách kinh tế mới từ Bắc Kinh.
Ở khía cạnh cung ứng toàn cầu, hạ tầng xuất khẩu chứng kiến khối lượng kỷ lục. Cụm cảng Pilbara tại Tây Australia đã cán mốc thông quan trên 800 triệu tấn hàng hóa trong niên độ 2025 - 2026, cao hơn đáng kể so với mức 775,7 triệu tấn kỳ trước. Trong đó, lượng quặng sắt xuất khẩu đạt khoảng 759,4 triệu tấn, với sự đóng góp lớn nhất từ cảng Port Hedland và Dampier.
Ở thị trường nội địa Trung Quốc, dữ liệu CISA tính đến 20/7 cho thấy tồn kho 5 mặt hàng thép chủ lực tại 21 thành phố lớn đạt 9,62 triệu tấn, hạ 0,7% so với giữa tháng. Sự phân hóa xuất hiện rõ khi thép cuộn cán nóng tăng nhẹ 0,4%, còn thép cuộn cán nguội giảm mạnh nhất 2,8%. Các nhóm thép tấm, thép cuộn và thép thanh cũng ghi nhận mức giảm từ 0,2% - 1,8%.
Đà sụt giảm của tồn kho chủ yếu phản ánh việc các lò luyện chủ động cắt giảm công suất. Trong bối cảnh biên lợi nhuận rơi vào vùng âm do giá bán không đắp nổi chi phí nguyên liệu, các nhà máy buộc phải tiết giảm quy mô để ngăn đà thua lỗ. Thống kê nửa đầu năm 2026 cho thấy sản lượng thép thô tại 10 địa phương sản xuất trọng điểm của Trung Quốc đã giảm 2,6% so với cùng kỳ.
Thị trường thép Trung Quốc dự báo tiếp tục giằng co rủi ro do lực cầu hạ nguồn yếu ớt và thời tiết khắc nghiệt như mưa lũ, nắng nóng kéo dài. Để ứng phó với bài toán chi phí, giải pháp duy nhất của các doanh nghiệp hiện nay là tạm dừng lò hoặc kéo dài đợt bảo dưỡng định kỳ.
Triển vọng ngành thép nửa cuối năm 2026 được nhận định sẽ tiếp tục đi ngang ở mức thấp bởi sự trầm lắng chưa hồi kết của mảng bất động sản. Nếu các nhà máy vội vàng khôi phục công suất trước khi sức mua cải thiện, nguy cơ thặng dư nguồn cung tái diễn sẽ lập tức kích hoạt đợt giảm giá mới. Bên cạnh đó, các rào cản phòng vệ thương mại gia tăng từ quốc tế cũng là lực cản lớn cho hoạt động xuất khẩu thép thời gian tới.