Theo ghi nhận của phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập lúc 16h00 ngày 5/8/2026, giá vàng miếng SJC và vàng nhẫn tròn trơn tiếp đà giảm từ 500.000 - 1 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 138 - 141 triệu đồng/lượng (mua - bán) so với phiên sáng qua.
![]() |
| Dự báo giá vàng ngày mai 6/8: Có thể tiếp tục tăng nhờ lực cầu |
Cụ thể, giá vàng miếng SJC tại Bảo Tín Mạnh giao dịch ở mức 138 - 141 triệu đồng/lượng (mua - bán), tăng 500.000 đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý tăng 500.000 đồng/lượng, giao dịch quanh mức 138 - 141 triệu đồng/lượng (mua - bán). Chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC giao dịch ở mức 138 - 141 triệu đồng/lượng (mua - bán), tăng 1 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa 2 chiều ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Ngoài ra, giá vàng SJC tại Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) giao dịch ở mức 138 - 141 triệu đồng/lượng (mua - bán); giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH Mi Hồng giao dịch ở mức 139 - 140,5 triệu đồng/lượng (mua - bán); giá vàng miếng SJC Hà Nội tại Vàng bạc đá quý Asean giao dịch ở mức 138 - 141 triệu đồng/lượng (mua - bán);...
Đối với vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn ép vỉ của Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch quanh mức 138,5 - 142,5 triệu đồng/lượng, tăng 1 triệu đồng/lượng chiều mua vào và bán ra. Chênh lệch mua – bán ở mức 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn Doji Hưng Thịnh Vượng 9999 của Tập đoàn Doji tại Hà Nội tăng 1 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 138,5 - 142,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 4 triệu đồng.
Giá nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu, giao dịch ở mức 139 - 143 triệu đồng/lượng (mua – bán), tăng 1 triệu đồng/lượng. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 4 triệu đồng.
Giá vàng hôm nay nhẫn tròn trơn 999,9 tại Công ty Phú Quý giao dịch quanh mức 138 - 141 triệu đồng/lượng, tăng 500.000 đồng/lượng (mua vào và bán ra). Chênh lệch mua – bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Cập nhật chi tiết giá vàng hôm nay
| 1. PNJ - Cập nhật: 05/08/2026 13:53 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| TPHCM - PNJ | 137,900 ▲1700K | 141,700 ▲1500K |
| Hà Nội - PNJ | 137,900 ▲1700K | 141,700 ▲1500K |
| Đà Nẵng - PNJ | 137,900 ▲1700K | 141,700 ▲1500K |
| Miền Tây - PNJ | 137,900 ▲1700K | 141,700 ▲1500K |
| Tây Nguyên - PNJ | 137,900 ▲1700K | 141,700 ▲1500K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 137,900 ▲1700K | 141,700 ▲1500K |
| 1. AJC - Cập nhật: 05/08/2026 00:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Miếng SJC Hà Nội | 13,880 ▲130K | 14,180 ▲130K |
| Miếng SJC Nghệ An | 13,880 ▲130K | 14,180 ▲130K |
| Miếng SJC Thái Bình | 13,880 ▲130K | 14,180 ▲130K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 13,880 ▲130K | 14,180 ▲130K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 13,880 ▲130K | 14,180 ▲130K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 13,880 ▲130K | 14,180 ▲130K |
| NL 99.99 | 13,000 ▲100K | |
| Nhẫn Tròn Thái Bình | 12,900 ▲100K | |
| Trang sức 99.9 | 13,490 ▲130K | 14,090 ▲130K |
| Trang sức 99.99 | 13,500 ▲130K | 14,100 ▲130K |
| 1. SJC - Cập nhật: 22/07/2025 08:32 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ | 1,388 ▲13K | 14,182 ▲130K |
| Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 1,388 ▲13K | 14,183 ▲130K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 1,383 ▲18K | 1,413 ▲1273K |
| Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 1,383 ▲18K | 1,414 ▲13K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% | 1,353 ▲1219K | 1,398 ▲13K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% | 131,416 ▲1287K | 138,416 ▲1287K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% | 9,521 ▼84714K | 10,501 ▼93534K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% | 85,424 ▲885K | 95,224 ▲885K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% | 75,637 ▲794K | 85,437 ▲794K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% | 71,862 ▲758K | 81,662 ▲758K |
| Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% | 48,652 ▲43841K | 58,452 ▲52661K |
| Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
| Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 1,388 ▲13K | 1,418 ▲13K |
Dự báo giá vàng ngày mai 6/8/2026
Theo Kitco, tính đến 16h ngày 5/8 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay tăng mạnh lên 4.163,5 USD/ounce, tăng 87,5 USD/ounce, tương đương 2,15%. Đà phục hồi diễn ra trong bối cảnh thị trường vẫn chịu tác động từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt. Lợi suất trái phiếu Mỹ tiếp tục neo ở mức cao, làm gia tăng chi phí cơ hội nắm giữ vàng và khiến xu hướng tăng của kim loại quý chưa thực sự vững chắc.
Điểm sáng của thị trường đến từ lực mua tại châu Á. Dòng vốn đổ vào các quỹ ETF vàng của Trung Quốc đã kéo dài 14 phiên liên tiếp, khi các nhà đầu tư tổ chức tranh thủ gia tăng tích lũy sau nhịp điều chỉnh về vùng 4.000 USD/ounce. Hoạt động mua vào ổn định cho thấy nhu cầu phòng ngừa rủi ro vẫn hiện hữu, góp phần củng cố vùng hỗ trợ quan trọng của giá vàng.
Ở góc nhìn dài hạn, Goldman Sachs nhận định lực mua bền bỉ từ các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục bù đắp tác động từ việc căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt và kỳ vọng lãi suất cao. Trong khi đó, Citi dự báo giá vàng có thể dao động quanh vùng hiện tại hoặc điều chỉnh nhẹ trước khi quay trở lại mốc 4.500 USD/ounce trong quý IV.
Trong ngắn hạn, diễn biến quan hệ Mỹ - Iran cùng các dữ liệu việc làm và dịch vụ của Mỹ sẽ là những yếu tố dẫn dắt thị trường. Nếu căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt, nhu cầu đối với tài sản trú ẩn có thể suy yếu, gây áp lực lên giá vàng. Ngược lại, lực mua từ các ngân hàng trung ương và dòng vốn ETF tại châu Á được kỳ vọng sẽ tiếp tục đóng vai trò là bệ đỡ, giúp giá vàng duy trì trên vùng 4.000 USD/ounce trong thời gian tới.