Xây dựng thương hiệu ngành thủ công mỹ nghệ để mở rộng con đường xuất khẩu

DNHN - Các sản phẩm ngành nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam luôn có nhu cầu cao ở thị trường quốc tế. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề là vấn đề hết sức cần thiết

Tiềm năng của ngành thủ công mỹ nghệ

Thủ công mỹ nghệ (TCMN) hiện là một trong số ngành có nhiều tiềm năng phát triển lớn, đặc biệt ở thị trường quốc tế. Nhiều sản phẩm gốm, sứ, sơn mài, đồ gỗ, hàng mây tre, dệt may, thêu đan… của Việt Nam được người tiêu dùng thế giới ưa chuộng dùng làm đồ trang trí nội thất và quà tặng. Tuy nhiên, so với lượng tiêu thụ hàng nội thất và quà tặng trên thế giới, thì hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm một phần nhỏ dung lượng thị trường

Thủ công mỹ nghệ (TCMN) hiện là một trong số ngành có nhiều tiềm năng phát triển lớn
Thủ công mỹ nghệ (TCMN) hiện là một trong số ngành có nhiều tiềm năng phát triển lớn.

Theo báo cáo từ Bộ Công thương, kim ngạch XK hàng TCMN Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019 tăng trung bình 9,5%/năm, từ 1,62 tỷ USD (2015) lên đến 2,23 tỷ USD (2019). Thị trường Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất cho các sản phẩm TCMN Việt Nam (với doanh số chiếm 35% kim ngạch XK hằng năm), bên cạnh đó là các thị trường như: Nhật Bản, EU (đặc biệt là Đức, Anh, Pháp, Hà Lan…), Australia, Hàn Quốc…

Theo thống kê của Hiệp hội XK hàng TCMN Việt Nam, cứ một triệu USD XK của ngành TCMN mang lại lợi nhuận gấp 5 - 10 lần so với ngành khai thác; giải quyết việc làm từ ba nghìn đến năm nghìn lao động, nhóm hàng TCMN được xếp vào nhóm sản phẩm có tiềm năng XK lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao. Ngoài ra, kim ngạch XK của mặt hàng này mang lại giá trị gia tăng lớn và được coi là ngành hàng mũi nhọn để tập trung phát triển XK trong các năm tới.

Trong bối cảnh của dịch Covid-19, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ vẫn duy trì mức tăng trưởng khá. Cụ thể, trong 7 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu các sản phẩm gốm sứ đạt 309 triệu USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019; sản phẩm mây tre cói thảm đạt 250 triệu USD tăng 10,8%; sản phẩm thêu, dệt thủ công đạt 90 triệu USD, tăng 11%. Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề đã tạo việc làm, thu nhập cho trên 2,3 triệu lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng chuyển từ lao động nông nghiệp có thu nhập thấp sang lao động ngành nghề có thu nhập cao hơn. Mức thu nhập của người lao động ngành nghề cao gấp 2 đến 3 lần so với thu nhập của người lao động thuần nông.

Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều khách hàng trong và ngoài nước.
Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều khách hàng trong và ngoài nước..

Trang bị những nền tảng cơ bản theo yêu cầu thị trường

Những cơ hội lớn mở ra từ các hiệp định CPTPP và EVFTA đối với ngành hàng này, trong khi Việt Nam đang nổi lên là một điểm đến an toàn sau thành công của Chính phủ trong việc kiểm soát dịch bệnh.

Ông Filip Graovac, Phó Trưởng đại diện Quỹ châu Á tại Việt Nam, nhận định: Việt Nam có tiềm năng XK hàng TCMN và nông sản, có những sản phẩm tốt và những nhà sản xuất có trách nhiệm. Vấn đề là làm sao để thể hiện được những yếu tố này với người mua ngoài biên giới.

Người tiêu dùng cũng ngày càng quan tâm hơn về các vấn đề liên quan đến môi trường và xã hội, trong đó đặc biệt là các vấn đề liên quan đến nguồn gốc và tính hợp pháp của nguyên liệu sử dụng, các vấn đề liên quan đến các tập quán lao động, an toàn và sức khỏe của công nhân, sản xuất sạch - thân thiện với môi trường… Các sản phẩm TCMN sử dụng nguyên liệu tận dụng và tái chế và kênh thị trường thương mại bình đẳng được dự báo sẽ ngày càng được phát triển. Tuy nhiên, ông Filip Graovac nhận định, người Việt Nam áp dụng chưa tốt truy xuất nguồn gốc hàng hóa dù khá nhạy bén trong kinh doanh.

Đồng quan điểm về vấn đề này, ông Lê Bá Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội XK hàng TCMN Việt Nam (VIETCRAFT), nhận định: Truy xuất nguồn gốc đang thách thức tăng trưởng của toàn ngành TCMN với khoảng 1,5 triệu lao động và mang lại giá trị kim ngạch XK đạt khoảng 1,7 tỷ USD/năm.

Ngoài ra, nhiều ý kiến cho rằng, dù có tiềm năng tăng trưởng rất lớn, song ngành TCMN của Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề tồn tại. Theo đó, việc phát triển sản xuất cũng còn nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị; hạn chế về đào tạo kỹ thuật cơ bản, ý tưởng thiết kế sáng tạo và phát triển sản phẩm mới. Đặc biệt yêu cầu hợp chuẩn quốc tế ngày càng tăng, trong khi số doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn, hợp chuẩn còn rất ít.

Mặc dù, TCMN không phải là ngành hàng thiết yếu nhưng trong một xã hội phát triển, nhu cầu hàng trang trí đóng vai trò ngày càng cao. Tiêu dùng hàng TCMN rất lớn, hơn 100 tỷ USD, nhưng Việt Nam mới chỉ chiếm hơn 2%. Do đó dư địa phát triển cho ngành hàng này là rất lớn. Để nắm bắt cơ hội thị trường, ông Lê Bá Ngọc khuyến nghị các doanh nghiệp cần trang bị những nền tảng cơ bản theo yêu cầu thị trường, trong đó, có truy xuất nguồn gốc.

Bộ Công thương cho biết, trong thời gian tới sẽ tập trung nâng cao năng lực XK chuỗi giá trị hàng TCMN Việt Nam trên cơ sở tập trung vào các nhóm mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm, tăng cường hợp chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng được nhiều phân khúc thị trường khác nhau, trong đó tập trung vào phân khúc thị trường trung và cao cấp. Tăng cường tính gắn kết ngành và xây dựng thương hiệu ngành gắn với xúc tiến thương mại, phát triển bền vững nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên bình diện khu vực – phấn đấu đạt kim ngạch XK năm tỷ USD vào năm 2025.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, làng nghề là vấn đề hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Bảo Bảo

Tin liên quan