Thứ bảy 17/10/2026 14:51
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Kinh doanh

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng phát triển kinh tế Việt Nam

18/04/2021 13:06
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như là một trọng những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy

Công cuộc đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ năm 1986. Từ thời điểm này, Việt Nam thực hiện chủ trương thu hút vốn FDI để phát triển kinh tế-xã hội. Thực tiễn cho thấy, với chính sách mở cửa, ưu đãi mạnh mẽ mà lượng vốn FDI vào Việt Nam liên tục có sự tăng trưởng, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam khởi sắc.

FDI đã được nhìn nhận như là một trọng những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam đã ra khỏi danh sách các nền kinh tế chậm phát triển và vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy vậy, vẫn còn có những quan điểm khác nhau khi đánh giá vai trò của FDI đối với nền kinh tế. Có ý kiến cho rằng, FDI đóng vai trò quan trọng, giúp phát triển kinh tế mạnh mẽ, nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng, càng thu hút FDI càng thua thiệt (thiệt hại từ ô nhiễm môi trường do FDI, thất thoát do chuyển giá, trả công lao động rẻ cho nhân lực Việt Nam…).

Tổng lợi ích do FDI mang lại và thất thoát giá trị do FDI gây ra cũng chưa được tính toán. Trong bối cảnh đó, tác giả tiến hành nghiên cứu vấn đề hiệu quả kinh tế của FDI, vai trò của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam và kiến nghị các giải pháp cần thực hiện để phát huy vai trò của FDI trong những năm tới.

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế FDI

Trong quá trình nghiên cứu hiệu quả kinh tế FDI ở tỉnh Vĩnh Phúc, đồng thời, tham khảo các nghiên cứu trong nước, tác giả xác định được các chỉ tiêu định lượng chủ yếu, phản ánh hiệu quả kinh tế FDI. Cụ thể:

Một là, các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của bản thân khu vực FDI.

Chỉ tiêu 1: Năng suất lao động của khu vực FDI (hay nói cách khác là hiệu suất sử dụng một lao động của khu vực FDI) hoặc thu nhập bình quân 1 lao động.

Chỉ tiêu thứ 2: Tỷ suất lợi nhuận trước hoặc sau thuế.

Hai là, đóng góp của khu vực FDI cho nền kinh tế quốc gia.

Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế.

Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào độ mở của nền kinh tế hay đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của quốc

Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách nhà nước.

Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tạo việc làm cho người lao động.

Ngoài những chỉ tiêu trên, nếu thu thập và tính toán được số liệu khác thì có thể tính thêm cả mức độ đóng góp vào hiện đại hóa nền kinh tế (thông qua chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp vào hiện đại công nghệ của nền kinh tế), số người được nuôi sống do lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI…

Hiệu quả FDI đối với phát triển kinh tế của Việt Nam

Vai trò và phân tích vai trò của FDI đối với nền kinh tế

Trên phạm vi thế giới, nhiều nghiên cứu cho thấy, FDI có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của quốc gia đang phát triển, thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây: Khỏa lấp thiếu hụt về vốn đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội; Góp phần quan trọng vào công cuộc hiện đại hóa công nghệ của nền kinh tế; Tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến để phát triển kinh tế nhanh hơn, hiệu quả hơn; Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, hình thành đội ngũ lao động có tay nghề cao và tinh thần lao động sáng tạo, có kỷ cương, kỷ luật; Gia tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần giải quyết đói nghèo, nâng cao đời sống người dân; Góp phần gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước; Thúc đẩy phát triển của đội ngũ doanh nghiệp trong nước; Mở rộng giao thương quốc tế, phát triển thị trường và tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh ảnh hưởng tích cực, quá trình thu hút và hoạt động của khu vực FDI cũng xuất hiện những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của nước thu hút FDI. Trong đó, có thể kể đến như: Gây ô nhiễm môi trường vì trốn tránh không xây dựng công trình xử lý chất thải; Trốn nộp thuế thông qua khai báo “lỗ giả lãi thật” làm thiệt hại cho nền kinh tế của quốc gia thu hút FDI; Thông qua việc chuyển giá để thực hiện “lỗ giả lãi thật”, làm thất thoát nguồn thu của quốc gia thu hút FDI; Có thể trốn tránh trách nhiệm đối với người lao động thông qua việc không thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội và bỏ qua những quyền lợi đáng có của người lao động theo pháp luật của nước thu hút FDI.

Thành tựu phát triển kinh tế và thu hút FDI

Trong những năm qua, Việt Nam liên tục đạt bước phát triển tích cực, luôn đứng trong nhóm các quốc gia có tốc độ phát triển nhanh, vị thế trên trường quốc tế ngày càng cao; đời sống người dân được nâng lên, thứ tự năng lực cạnh tranh quốc tế được cải thiện.

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, khu vực FDI luôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP cả nước. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 5,9%/năm ở giai đoạn 2011-2015 và khoảng 6,75 %/năm ở giai đoạn 2016-2019. Trong khi đó, khu vực FDI có tốc độ tăng trưởng khoảng 8,4% năm 2010; khoảng 10,6% năm 2019. GDP bình quân đầu người của Việt Nam hiện thấp hơn so với nhóm các nước dẫn đầu ASEAN. Năm 2019, GDP/người của Việt Nam đạt khoảng 2.750 USD, bằng khoảng 4% của Singapore, 22,5% của Malaysia, 35,3% của Thái Lan.

Trong hơn 30 năm thu hút vốn FDI, Việt Nam đã thu hút trung bình hơn 7 tỷ USD/năm, bình quân khoảng 2,2 triệu USD/người dân.

Trong giai đoạn 1988-2019, vốn FDI thực hiện bằng khoảng 47% vốn đăng ký. Phần lớn vốn FDI đến từ các nước có công nghệ trung bình và không nắm giữ công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn. Thực tế này đặt ra vấn đề, Việt Nam cần có giải pháp thu hút

các nhà đầu tư FDI đến từ các quốc gia phát triển, nắm giữ công nghệ hàng đầu, có tiềm năng tài chính và có thị trường rộng lớn.

FDI đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam

Với số liệu nghiên cứu, tổng hợp và theo các chỉ tiêu đã xác định, tác giả đánh giá hiệu quả khu vực FDI trong giai đoạn 2011-2019 như sau: Giai đoạn 2011-2019, khu vực FDI đóng góp khoảng 25,7% cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, chiếm khoảng 13% GDP năm 2010 và 19,6% GDP năm 2019.

Đến năm 2019, lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn FDI vào khoảng 6,1 triệu người. Năng suất lao động của khu vực FDI đạt mức khoảng 118 triệu đồng (giá năm 2010), đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,7%/năm (cao hơn rất nhiều so với năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp trong nước: 8,7/4,6). Theo Sách trắng doanh nghiệp năm 2020 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố, thu nhập trung bình 1 lao động của khu vực doanh nghiệp FDI đạt khoảng 11,2 triệu đồng/tháng, cao hơn mức trung bình của nền kinh tế khoảng 1,2 lần (11,2/9,6).

Đối với thu ngân sách nhà nước, thu trong nước chiếm tỷ trọng lớn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng tỷ lệ đóng góp vào thu ngân sách nhà nước trong những năm gần đây (tỷ lệ 10,8% năm 2010 tăng lên khoảng 13,6% năm 2019). Đây là tín hiệu tốt nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực thực tế của khu vực FDI.

Điều này cho thấy, đóng góp của FDI cho nền kinh tế Việt Nam còn hạn chế. Khu vực FDI chiếm khoảng 23-24% vốn đầu tư xã hội nhưng chỉ đóng góp khoảng 19,6% vào tổng GDP của toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, khu vực FDI đóng góp lớn và gia tăng độ mở của nền kinh tế do tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI vào tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam ngày càng tăng.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2011- 2018, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp FDI đạt trung bình khoảng 6,2%, trong khi mức trung bình doanh nghiệp của cả nước chỉ đạt khoảng 3,85%. Tuy nhiên, do chưa tính toán được thất thoát do chuyển giá của nhiều doanh nghiệp FDI nên thực chất hiệu quả của khu vực FDI chưa thể khẳng định.

Việc đánh giá vai trò FDI đối với sự phát triển của nền kinh tế có thể tiến hành được, đây là công việc có cơ sở khoa học vững chắc. Đối với các chỉ tiêu mà tác giả đã xác định để đánh giá hiệu quả khu vực FDI thể hiện vai trò của FDI là khả thi và có thể tính toán được. Kết quả phân tích cho thấy, vai trò FDI đối với nền kinh tế Việt Nam là rất lớn, cả trong hiện tại và tương lai. Vì thế, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm thu hút được nhiều hơn và phát huy tốt vai trò của FDI đối với kinh tế-xã hội Việt Nam có ý nghĩa quan trọng. Theo đó, tác giả đề xuất một số nhóm giải pháp gồm:

Thứ nhất, có những chủ trương, định hướng mới trong thu hút vốn FDI để tăng tốc nền kinh tế.

Gia tăng thu hút các dự án FDI có quy mô vốn lớn, nắm giữ công nghệ cao đến từ các nước phát triển hàng đầu trên thế giới là chủ trương xuyên suốt được đặt ra. Theo đó, để thực hiện tốt điều này, Việt Nam cần có chính sách đảm bảo thu hút vốn FDI chiếm khoảng 25-27% vốn đầu tư xã hội để nền kinh tế bứt tốc. Mỗi năm phấn đấu thu hút khoảng 20 tỷ USD và tỷ lệ vốn thực hiện khoảng 70-75% số vốn đăng ký. Cùng với đó, nâng tỷ lệ vốn FDI đến từ các nước phát triển hàng đầu thế giới để phát triển mạnh hơn nữa công nghiệp điện tử, chế tạo máy móc thiết bị với công nghệ cao, có nhiều giá trị gia tăng và có khả năng xuất khẩu lớn. Đồng thời, làm cơ sở thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp trong nước, góp phần tạo nên các chuỗi giá trị trong nước.

Dự báo đến năm 2030, Việt Nam có khoảng 120 triệu dân, tiếp tục ổn định về chính trị, kinh tế; Việt Nam cần phát triển mạnh các lĩnh vực tự động hóa, cơ điện tử, máy móc phục vụ sản xuất hàng hóa–điện– vận tải, viễn thông, thuốc chữa bệnh, vận tải biển, logistics, chữa bệnh, du lịch.

Thứ hai, hoàn thiện chính sách thu hút vốn FDI, đảm bảo đồng bộ, nhất quán.

Từ Trung ương đến địa phương cần đưa ra các cam kết mạnh mẽ đồng hành cùng nhà đầu tư FDI, tạo thuận lợi để các nhà đầu tư làm ăn có hiệu quả,

lâu dài và ổn định. Theo lý thuyết, lợi nhuận là đòi hỏi hàng đầu đối với các nhà đầu tư nói chung. Tuy nhiên, cần có các chính sách hạn chế đến mức tối thiểu tình trạng chuyển giá và khai báo “lỗ giả lãi thật” gây thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam.

Bên cạnh đó, ban hành các chính sách hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư, tạo ra lợi thế cạnh tranh trong môi trường đầu tư của Việt Nam như: hỗ trợ nhân lực chất lượng cao, giảm hoặc miễn tiền thuê đất, giảm thuế nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu và các nhà đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ khi vào Việt Nam làm ăn. Mặt khác, hạn chế những dự án chỉ có công nghệ trung bình, sử dụng nhiều đất và tiêu tốn nhiều điện lại có nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Thứ ba, đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển.

Việt Nam cần tập trung đào tạo nhân lực quản lý bậc trung và nhân lực làm việc trong lĩnh vực chuyển đổi số. Chính phủ ưu tiên hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực cho những dự án sử dụng công nghệ cao, quy mô lớn phù hợp với hình thành các lĩnh vực mũi nhọn và các sản phẩm chủ lực của Việt Nam.

Thứ tư, phát triển đội ngũ doanh nghiệp trong nước nhằm hình thành chuỗi giá trị.

Phát triển đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam cả về số lượng, quy mô và chất lượng có năng lực kết nối với doanh nghiệp FDI là yêu cầu đặt ra trong quá trình hội nhập, thu hút FDI.

Theo đó, thời gian đầu nên phát triển mạnh hình thức liên kết giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước để hình thành đội ngũ đủ năng lực chế tạo thiết bị, linh kiện phục vụ lắp ráp cho các doanh nghiệp FDI lớn. Sau đó thực hiện từng bước mua lại doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của người nước ngoài.

Việt Nam là quốc gia vừa thiếu công nghệ nguồn, công nghệ hiện đại, vừa thiếu nguyên liệu theo yêu cầu của các nhà lắp ráp lớn đã đầu tư vào Việt Nam nên Nhà nước cần có kế hoạch khả thi, thực tế để phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước lớn mạnh.

Thứ năm, đánh giá hiệu quả kinh tế FDI trên phạm vi cả nước

Hàng năm tổ chức triển khai đánh giá hiệu quả kinh tế của FDI trên phạm vi cả nước. Để thực hiện nội dung này, Nhà nước nên có hướng dẫn đánh giá hiệu quả FDI thống nhất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong đó, cần xây dựng các chỉ tiêu định lượng và cách đánh giá thiệt hại do chuyển giá của doanh nghiệp FDI; Nên hình thành cổng thông tin điện tử về FDI và công khai kết quả đánh giá hiệu quả cho doanh nghiệp, người dân được biết một cách công khai, minh bạch.

PV

Bài liên quan
Tin bài khác
Đồng Nai xuất siêu hơn 8 tỷ USD, doanh nghiệp cần mở rộng chuỗi cung ứng

Đồng Nai xuất siêu hơn 8 tỷ USD, doanh nghiệp cần mở rộng chuỗi cung ứng

Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai xuất siêu khoảng 8,34 tỷ USD, với kim ngạch xuất khẩu tăng 7% so với cùng kỳ. Để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa thị trường và tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Quản trị doanh nghiệp nhìn từ sự kiện Ngân hàng TMCP Á Châu đoạt nhiều giải thưởng

Quản trị doanh nghiệp nhìn từ sự kiện Ngân hàng TMCP Á Châu đoạt nhiều giải thưởng

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) được ghi nhận tại bảy hạng mục giải thưởng trong nước và quốc tế, liên quan đến quản trị doanh nghiệp, thương hiệu, chuyển đổi số, ESG và thanh toán quốc tế. Thay vì chỉ nhìn vào số lượng danh hiệu, những ghi nhận này đặt ra vấn đề rộng hơn: năng lực quản trị được chuyển hóa như thế nào thành chất lượng vận hành, độ tin cậy của dịch vụ và giá trị cho cộng đồng doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần rà soát nghĩa vụ kiểm toán năng lượng trước ngày 20/11

Doanh nghiệp cần rà soát nghĩa vụ kiểm toán năng lượng trước ngày 20/11

Công an tỉnh Khánh Hòa cảnh báo doanh nghiệp về nguy cơ vi phạm quy định quản lý và kiểm toán năng lượng. Trước khi Thông tư 64/2026/TT-BCT có hiệu lực, việc rà soát lượng tiêu thụ, thời hạn báo cáo và trách nhiệm quản lý là bước cần thiết để cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm chủ động tuân thủ pháp luật, đồng thời kiểm soát chi phí vận hành.
Xuất khẩu hoa cúc sang Nhật Bản thu gần 800 tỷ đồng trong 8 tháng

Xuất khẩu hoa cúc sang Nhật Bản thu gần 800 tỷ đồng trong 8 tháng

Hoa cúc Việt Nam mang về 30,45 triệu USD từ thị trường Nhật Bản trong 8 tháng đầu năm 2026, dẫn đầu về kim ngạch trong nhóm 20 mặt hàng được thống kê.
Khánh Hòa đặt mục tiêu 80% điểm du lịch đạt nhãn xanh vào năm 2030

Khánh Hòa đặt mục tiêu 80% điểm du lịch đạt nhãn xanh vào năm 2030

Khánh Hòa đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% điểm du lịch và cơ sở kinh doanh du lịch được dán nhãn xanh, cam kết không sử dụng nhựa dùng một lần; 95% cơ sở lưu trú đầu tư và sử dụng năng lượng tái tạo. Tỉnh đang triển khai bộ tiêu chuẩn du lịch xanh, khuyến khích doanh nghiệp giảm rác thải nhựa và thúc đẩy các mô hình phát triển bền vững.
M&A xuyên biên giới: Thêm hướng đi cho doanh nghiệp Việt mở rộng thị trường

M&A xuyên biên giới: Thêm hướng đi cho doanh nghiệp Việt mở rộng thị trường

Trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tìm kiếm cơ hội tiếp cận vốn, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) xuyên biên giới đang mở ra một hướng đi đáng chú ý.
Doanh nghiệp FDI cần rà soát giấy phép kinh doanh trước ngày 18/10

Doanh nghiệp FDI cần rà soát giấy phép kinh doanh trước ngày 18/10

Từ ngày 18/10/2026, Nghị định 342/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định chi tiết hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Doanh nghiệp cần đối chiếu hoạt động đang thực hiện với phạm vi giấy phép và điều kiện pháp lý tương ứng, nhất là trong các lĩnh vực phân phối, logistics và thương mại điện tử.
TP. Hồ Chí Minh đưa AI vào hành trình khám phá du lịch

TP. Hồ Chí Minh đưa AI vào hành trình khám phá du lịch

Lấy chất lượng điểm đến và sự hài lòng của du khách làm thước đo, chương trình truyền thông, quảng bá du lịch “Thành phố Hồ Chí Minh – Sống động từng trải nghiệm” hướng đến kết nối thương hiệu với sản phẩm thực tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và gia tăng sức cạnh tranh cho du lịch Thành phố.
Kết nối FDI - doanh nghiệp Việt: Mở đường nâng tỷ lệ nội địa hóa

Kết nối FDI - doanh nghiệp Việt: Mở đường nâng tỷ lệ nội địa hóa

Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt không chỉ giúp mở rộng thị trường cho công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, mà còn tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất, gia tăng giá trị nội địa và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững. Đây là vấn đề được đặt ra tại Diễn đàn Công nghiệp Hỗ trợ tổ chức ngày 14/10 tại Hà Nội.
Xuất khẩu rau quả tăng gần 20%, kỳ vọng cán mốc 10 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả tăng gần 20%, kỳ vọng cán mốc 10 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2026, mở ra triển vọng cán mốc kỷ lục 10 tỷ USD nhờ nhu cầu thị trường và nguồn cung thuận lợi.
Nhà đầu tư Hoa Kỳ kiến nghị gỡ vướng thủ tục để mở rộng đầu tư

Nhà đầu tư Hoa Kỳ kiến nghị gỡ vướng thủ tục để mở rộng đầu tư

Tại cuộc tiếp của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc với Đại sứ Hoa Kỳ Jennifer Wicks và đại diện các nhà đầu tư Hoa Kỳ ngày 14/10, nhiều kiến nghị tập trung vào cải cách thủ tục đầu tư, phát triển công nghệ cao, hoàn thiện hạ tầng năng lượng và mở rộng cơ hội tham gia chuỗi cung ứng. Những đề xuất này đặt ra yêu cầu chuyển đối thoại doanh nghiệp thành các giải pháp chính sách có thể triển khai trong thực tế.
Xuất khẩu bán dẫn tăng nhanh, doanh nghiệp Việt cần tìm chỗ đứng trong chuỗi giá trị

Xuất khẩu bán dẫn tăng nhanh, doanh nghiệp Việt cần tìm chỗ đứng trong chuỗi giá trị

Xuất khẩu chất bán dẫn của Việt Nam tăng trưởng kép bình quân 31,8% mỗi năm trong giai đoạn 2006–2025, theo báo cáo do FedEx phối hợp Frost & Sullivan thực hiện. Tuy nhiên, để biến đà tăng thương mại thành năng lực công nghiệp bền vững, doanh nghiệp trong nước cần tìm được vị trí phù hợp ở các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Doanh nghiệp thực phẩm phải sẵn sàng hồ sơ truy xuất trong 24 giờ

Thông tư 63/2026/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 15/11/2026, đặt ra yêu cầu cụ thể về hồ sơ truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Doanh nghiệp phải tổ chức thông tin xuyên suốt từ nguyên liệu, sản xuất đến phân phối, bảo đảm có thể cung cấp hồ sơ trong vòng 24 giờ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Doanh nhân nông nghiệp nhiệt đới gỡ nút thắt vốn và thị trường

Doanh nhân nông nghiệp nhiệt đới gỡ nút thắt vốn và thị trường

Doanh nhân nông nghiệp nhiệt đới đang tìm cách tháo gỡ những điểm nghẽn về vốn, vùng nguyên liệu và pháp lý. Với gần 100 hội viên, COTAB kết nối doanh nghiệp, cơ quan quản lý, ngân hàng và chuyên gia nhằm hỗ trợ chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu và thúc đẩy nông nghiệp xanh, hiệu quả phụ thuộc vào khả năng hợp tác thực chất.
Doanh nghiệp Việt trước yêu cầu thực hành ESG để giữ vị thế trong chuỗi cung ứng

Doanh nghiệp Việt trước yêu cầu thực hành ESG để giữ vị thế trong chuỗi cung ứng

Thực hành ESG đang trở thành yêu cầu quan trọng để doanh nghiệp Việt đáp ứng tiêu chuẩn xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.