Thứ ba 19/05/2026 05:06
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Thách thức giảm lãi suất cho vay và nợ xấu

18/10/2021 15:05
Trong kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Tiếp tục tái cơ cấu các tổ chức tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế

Sau năm năm tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với một số kết quả nhất định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gần đây tiếp tục đề xuất kế hoạch cơ cấu nền kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, với năm nội dung trọng tâm và chín nhóm chỉ tiêu cụ thể.

Kế hoạch trên đặt ra giữa lúc nền kinh tế đang phải vật lộn với tăng trưởng suy giảm và bất ổn gia tăng do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, đe dọa sự sống còn của hệ thống doanh nghiệp, cũng như nguy cơ nợ xấu tăng vọt trong hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu cho giai đoạn tới, nhằm hướng đến việc củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

Yêu cầu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đưa ra sáu mục tiêu cụ thể đi kèm với bảy nhóm nhiệm vụ – giải pháp, trong đó bên cạnh các mục tiêu mới cũng có những mục tiêu cũ mà đề án tái cơ cấu đặt ra trước đây chưa kịp hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây chỉ tập trung vào hai mục tiêu đầu tiên mà cũng có thể xem là quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Mục tiêu giảm lãi suất cho vay: không dễ!

Mục tiêu đầu tiên tiếp tục là “giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế”. Vấn đề đặt ra ở đây: mức “chênh lệch” bao nhiêu được xem là hợp lý và có tính cạnh tranh?

Dù mặt bằng lãi suất cho vay lẫn tiền gửi đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các đợt giảm lãi suất cho vay bao giờ cũng chậm hơn và ít hơn so với mức giảm của lãi suất tiền gửi. Điều này, một phần bởi vì chênh lệch đáo hạn giữa hoạt động cho vay và huy động, khi các ngân hàng có xu hướng huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn, theo đó khoảng cách giữa các lần điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng cho vay thường dài hơn, cũng như phụ thuộc vào chính sách và động lực của chính các ngân hàng.

Hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động phổ biến nằm trong khoảng từ 2,5-5 điểm phần trăm/năm tùy theo sản phẩm và kỳ hạn, cá biệt những khoản vay tiêu dùng tín chấp chênh lệch có thể lên tới 7-8 điểm phần trăm/năm.

Do đó, có thể thấy, mục tiêu giảm chênh lệch lãi suất cho vay và huy động xuống mức “hợp lý” còn chung chung khi vẫn chưa xác định được con số định lượng cụ thể.

Ngoài ra, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung bình trong thời gian tới cũng sẽ gặp không ít thách thức.

Đầu tiên là xu hướng thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất trở lại trên toàn cầu sẽ mạnh hơn trong những năm tới và Việt Nam có lẽ cũng khó lòng nằm ngoài xu hướng chung.

Thứ hai là xu hướng giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục đi lên hiện nay càng tạo thêm áp lực lạm phát cao quay trở lại, kéo theo áp lực lên lãi suất tiền gửi của ngân hàng.

Thứ ba là với chính sách kích cầu đầu tư công để thúc đẩy kinh tế phục hồi nhanh hơn, hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh triển khai kéo theo nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, từ đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn át, tức khi Chính phủ tăng vay nợ sẽ khiến lãi suất tăng và khu vực tư nhân bị hạn chế tiếp cận vốn hoặc phải chấp nhận lãi suất cao hơn.

Cuối cùng, gánh nặng nợ xấu cũng sẽ hạn chế động lực giảm thêm lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng, khi quá khứ những năm trước đây từng chứng kiến cục máu đông nợ xấu đã khiến các ngân hàng phải tìm cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao để bù đắp những thiệt hại do các khoản nợ xấu vì cho vay dễ dãi gây ra. Lần này, với nguy cơ nợ xấu từ các khoản vay buộc phải tái cơ cấu do ảnh hưởng của dịch bệnh, mà chưa biết sẽ còn kéo dài đến đâu, bài toán nợ xấu đang quay trở lại với hệ thống ngân hàng.

Xử lý nợ xấu – tiếp tục là bài toán khó!

Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng thứ hai là “nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ”. Có thể thấy mục tiêu xử lý nợ xấu đã được đặt ra liên tiếp trong suốt 15 năm qua, từ Đề án tái cơ cấu 254 cho giai đoạn 2011-2015, đến Đề án 1058 cho giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục được nhắc lại ở đề án lần này cho giai đoạn 2021-2025, cho thấy nợ xấu luôn là căn bệnh nan y dai dẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nếu như giai đoạn trước nợ xấu phát sinh từ việc sở hữu chéo kéo theo tình trạng cho vay sân sau của các ông chủ ngân hàng, cũng như rót vốn ồ ạt vào các dự án bất động sản, doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lần này nợ xấu đến từ những nguyên nhân mang tính khách quan hơn – đó là vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Đáng lưu ý là nếu như giai đoạn 2016-2020 việc xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả khá tốt, thì chỉ cần từ năm ngoái đến nay nợ xấu lại có nguy cơ tăng vọt và xóa nhòa thành quả này.

Mới đây nhất, số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đến cuối tháng 6 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ cơ cấu lại do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% – cao hơn con số 5,08% cuối năm 2020, tương đương con số tuyệt đối là gần 705.500 tỉ đồng, dù sáu tháng đầu năm nay cũng đã xử lý được số nợ xấu nội bảng 78.860 tỉ đồng.

Rõ ràng với các khoản nợ tái cơ cấu thời gian tới không thể xử lý được và buộc phải chuyển thành nợ xấu khi thời hạn tái cơ cấu kết thúc, có thể thấy mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% là khá thách thức. Nếu nhìn vào tình hình nền kinh tế hiện nay và triển vọng không quá lạc quan trong giai đoạn tới, cũng như bài toán thiếu hụt lực lượng lao động tại các trung tâm kinh tế hậu giãn cách, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đi lên, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng, các khoản cho vay của ngân hàng cũng có thể tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trước triển vọng không mấy sáng sủa này, dễ hiểu vì sao mục tiêu từng bước phát triển thị trường nợ đi kèm theo sau mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%. Rõ ràng việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn tới không chỉ cần đến nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế mà còn cần thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Nhưng, xu hướng chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại như đã nói, sẽ hạn chế dòng vốn quốc tế tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu trong nước.

Vì lẽ đó, NHNN cũng đã sớm có đề xuất xây dựng Luật xử lý nợ xấu theo hướng tiếp tục kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42/2017/QH14, khi kết quả cho thấy việc xử lý nợ xấu theo các giải pháp đột phá của Nghị quyết 42 trong bốn năm qua đã đạt những thành tựu nhất định.

Thống kê cho thấy xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15-8-2017 đến 30-6-2021, là 359.410 tỉ đồng, trong đó thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỉ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình trong giai đoạn 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị, trong một số ít trường hợp, có khả năng sử dụng một số nguồn lực nhà nước nhất định để thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt là việc cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Cần nhắc lại rằng việc sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng đã được thảo luận trong suốt giai đoạn 2011-2015 và kế tiếp là 2016-2020, nhưng chưa bao giờ được thông qua.

Kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 theo tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở nội dung cơ cấu lại hệ thống các TCTD đặt ra sáu mục tiêu cụ thể như sau:

1. Giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế.

2. Nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ.

3. Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD; nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của các TCTD.

4. Có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tất cả ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm áp dụng Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

5. Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển mô hình ngân hàng số nhằm gia tăng trải nghiệm khách hàng trên cơ sở ứng dụng các công nghệ CMCN 4.0. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thụy Lê/thesaigontimes.vn

Tin bài khác
Lãi suất ngân hàng ngày 18/5/2026: Duy trì ổn định, chênh lệch rõ giữa các nhóm

Lãi suất ngân hàng ngày 18/5/2026: Duy trì ổn định, chênh lệch rõ giữa các nhóm

Lãi suất ngân hàng ngày 18/5/2026 tiếp tục đi ngang, dao động mạnh giữa nhóm quốc doanh và tư nhân, trong khi mức trên 7%/năm ngày càng hiếm, phản ánh xu hướng ổn định mặt bằng huy động.
Ngân hàng siết chuyển tiền nhanh trên 500 triệu để tăng an toàn giao dịch

Ngân hàng siết chuyển tiền nhanh trên 500 triệu để tăng an toàn giao dịch

Nhiều ngân hàng đồng loạt dừng chuyển tiền nhanh trên 500 triệu đồng nhằm tuân thủ quy định mới, tăng cường bảo mật và hạn chế rủi ro gian lận trong thanh toán trực tuyến.
Ngân hàng củng cố nội lực, ưu tiên tăng trưởng bền vững trong bối cảnh biến động kinh tế

Ngân hàng củng cố nội lực, ưu tiên tăng trưởng bền vững trong bối cảnh biến động kinh tế

Trước biến động kinh tế toàn cầu, ngành ngân hàng chuyển hướng thận trọng, tập trung củng cố vốn, kiểm soát rủi ro và nâng cao chất lượng tăng trưởng nhằm tạo nền tảng vững chắc cho dài hạn.
Lãi suất ngân hàng ngày 16/5/2026: Giữ ổn định, nhiều kỳ hạn tiếp tục hấp dẫn

Lãi suất ngân hàng ngày 16/5/2026: Giữ ổn định, nhiều kỳ hạn tiếp tục hấp dẫn

Lãi suất ngân hàng ngày 16/5/2026 tiếp tục duy trì ổn định ở nhiều kỳ hạn, một số nhà băng vẫn áp dụng mức cao nhằm hút vốn trung dài hạn trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại.
Ngân hàng Nhà nước "mở van" 560.000 tỷ tiền gửi Kho bạc: Big 4 ngân hàng hưởng lợi lớn nhất

Ngân hàng Nhà nước "mở van" 560.000 tỷ tiền gửi Kho bạc: Big 4 ngân hàng hưởng lợi lớn nhất

Quyết định bất ngờ từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khi cho phép nới lỏng cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) từ ngày 15/5 được ví như một "bộ đệm" thanh khoản kịp thời. Động thái này không chỉ cứu vãn các ngân hàng quốc doanh đang tiến sát trần rào cản kỹ thuật, mà còn gián tiếp hạ nhiệt cuộc đua lãi suất tiền gửi trong nền kinh tế.
Techcombank chi gần 5.000 tỷ trả cổ tức, tăng vốn mạnh năm 2026

Techcombank chi gần 5.000 tỷ trả cổ tức, tăng vốn mạnh năm 2026

Techcombank dự kiến chi gần 5.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt năm 2025, đồng thời triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên gần 114.000 tỷ đồng trong năm 2026.
Lãi suất ngân hàng ngày 15/5/2026: Ôn định, chênh lệch cao giữa các kỳ hạn

Lãi suất ngân hàng ngày 15/5/2026: Ôn định, chênh lệch cao giữa các kỳ hạn

Lãi suất ngân hàng ngày 15/5/2026 tiếp tục duy trì ổn định, dao động mạnh giữa các kỳ hạn và nhóm ngân hàng, với mức cao nhất lên tới khoảng 9%/năm ở một số sản phẩm.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa mắc kẹt tín dụng vì “điểm mù” dữ liệu kéo dài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa mắc kẹt tín dụng vì “điểm mù” dữ liệu kéo dài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn loay hoay tiếp cận vốn khi dữ liệu tài chính thiếu minh bạch, rủi ro cao khiến ngân hàng thận trọng, làm trầm trọng thêm khoảng trống tín dụng kéo dài nhiều năm.
AI tái cấu trúc ngành ngân hàng, thu hẹp giao dịch và thay đổi nhân sự

AI tái cấu trúc ngành ngân hàng, thu hẹp giao dịch và thay đổi nhân sự

Làn sóng trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc ngành ngân hàng, từ thu hẹp mạng lưới giao dịch đến tái cấu trúc nhân sự, đặt ra thách thức mới về vận hành và quản trị rủi ro.
SeABank được vinh danh “Ngân hàng có trách nhiệm xã hội tiêu biểu 2026”

SeABank được vinh danh “Ngân hàng có trách nhiệm xã hội tiêu biểu 2026”

Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE:SSB) vừa được vinh danh giải thưởng “Ngân hàng có trách nhiệm xã hội tiêu biểu 2026” (Most Socially Responsible Bank Vietnam 2026) tại Global Business Magazine Awards 2026 do Tạp chí Global Business Magazine bình chọn.
Saigonbank lãi quý I giảm tốc, nợ xấu vượt 3,5%

Saigonbank lãi quý I giảm tốc, nợ xấu vượt 3,5%

Quý I/2026, Saigonbank ghi nhận lợi nhuận suy giảm trong bối cảnh nhiều mảng kinh doanh đi xuống, trong khi nợ xấu tăng mạnh lên 3,52%. Ngân hàng hiện vẫn còn hơn 420 tỷ đồng nợ xấu tại VAMC chưa xử lý xong.
Lợi nhuận ngân hàng bị siết chặt khi biên lãi ròng đi xuống

Lợi nhuận ngân hàng bị siết chặt khi biên lãi ròng đi xuống

Biên lãi ròng của hệ thống ngân hàng tiếp tục thu hẹp trong đầu năm 2026, khi chi phí vốn tăng nhanh hơn lãi suất cho vay, buộc các nhà băng phải tìm hướng đi mới để giữ đà tăng trưởng lợi nhuận.
Lãi suất vay mua nhà còn cao, kỳ vọng hạ nhiệt từ quý III năm 2026

Lãi suất vay mua nhà còn cao, kỳ vọng hạ nhiệt từ quý III năm 2026

Lãi suất vay mua nhà vẫn ở mức cao trong nửa đầu năm 2026, dù đã có tín hiệu giảm nhẹ. Giới chuyên gia kỳ vọng từ quý III, mặt bằng lãi suất sẽ dần ổn định trở lại.
Vietbank lên kế hoạch tăng vốn điều lệ hơn 15.500 tỷ đồng trong năm 2026

Vietbank lên kế hoạch tăng vốn điều lệ hơn 15.500 tỷ đồng trong năm 2026

Vietbank chính thức triển khai phương án tăng vốn điều lệ qua ba đợt phát hành cổ phiếu, hướng tới nâng cao năng lực tài chính và mở rộng hoạt động kinh doanh trong giai đoạn tới.
Mở rộng dòng vốn cho tăng trưởng mới giảm lệ thuộc tín dụng ngân hàng truyền thống

Mở rộng dòng vốn cho tăng trưởng mới giảm lệ thuộc tín dụng ngân hàng truyền thống

Kinh tế 2026 đặt mục tiêu tăng trưởng cao buộc Việt Nam phải tái cấu trúc dòng vốn theo hướng linh hoạt, bền vững, giảm phụ thuộc ngân hàng và mở rộng các kênh dẫn vốn dài hạn cho doanh nghiệp.