Thứ ba 07/04/2026 07:49
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Thách thức giảm lãi suất cho vay và nợ xấu

18/10/2021 15:05
Trong kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Tiếp tục tái cơ cấu các tổ chức tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế

Sau năm năm tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với một số kết quả nhất định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gần đây tiếp tục đề xuất kế hoạch cơ cấu nền kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, với năm nội dung trọng tâm và chín nhóm chỉ tiêu cụ thể.

Kế hoạch trên đặt ra giữa lúc nền kinh tế đang phải vật lộn với tăng trưởng suy giảm và bất ổn gia tăng do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, đe dọa sự sống còn của hệ thống doanh nghiệp, cũng như nguy cơ nợ xấu tăng vọt trong hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu cho giai đoạn tới, nhằm hướng đến việc củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

Yêu cầu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đưa ra sáu mục tiêu cụ thể đi kèm với bảy nhóm nhiệm vụ – giải pháp, trong đó bên cạnh các mục tiêu mới cũng có những mục tiêu cũ mà đề án tái cơ cấu đặt ra trước đây chưa kịp hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây chỉ tập trung vào hai mục tiêu đầu tiên mà cũng có thể xem là quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Mục tiêu giảm lãi suất cho vay: không dễ!

Mục tiêu đầu tiên tiếp tục là “giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế”. Vấn đề đặt ra ở đây: mức “chênh lệch” bao nhiêu được xem là hợp lý và có tính cạnh tranh?

Dù mặt bằng lãi suất cho vay lẫn tiền gửi đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các đợt giảm lãi suất cho vay bao giờ cũng chậm hơn và ít hơn so với mức giảm của lãi suất tiền gửi. Điều này, một phần bởi vì chênh lệch đáo hạn giữa hoạt động cho vay và huy động, khi các ngân hàng có xu hướng huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn, theo đó khoảng cách giữa các lần điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng cho vay thường dài hơn, cũng như phụ thuộc vào chính sách và động lực của chính các ngân hàng.

Hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động phổ biến nằm trong khoảng từ 2,5-5 điểm phần trăm/năm tùy theo sản phẩm và kỳ hạn, cá biệt những khoản vay tiêu dùng tín chấp chênh lệch có thể lên tới 7-8 điểm phần trăm/năm.

Do đó, có thể thấy, mục tiêu giảm chênh lệch lãi suất cho vay và huy động xuống mức “hợp lý” còn chung chung khi vẫn chưa xác định được con số định lượng cụ thể.

Ngoài ra, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung bình trong thời gian tới cũng sẽ gặp không ít thách thức.

Đầu tiên là xu hướng thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất trở lại trên toàn cầu sẽ mạnh hơn trong những năm tới và Việt Nam có lẽ cũng khó lòng nằm ngoài xu hướng chung.

Thứ hai là xu hướng giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục đi lên hiện nay càng tạo thêm áp lực lạm phát cao quay trở lại, kéo theo áp lực lên lãi suất tiền gửi của ngân hàng.

Thứ ba là với chính sách kích cầu đầu tư công để thúc đẩy kinh tế phục hồi nhanh hơn, hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh triển khai kéo theo nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, từ đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn át, tức khi Chính phủ tăng vay nợ sẽ khiến lãi suất tăng và khu vực tư nhân bị hạn chế tiếp cận vốn hoặc phải chấp nhận lãi suất cao hơn.

Cuối cùng, gánh nặng nợ xấu cũng sẽ hạn chế động lực giảm thêm lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng, khi quá khứ những năm trước đây từng chứng kiến cục máu đông nợ xấu đã khiến các ngân hàng phải tìm cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao để bù đắp những thiệt hại do các khoản nợ xấu vì cho vay dễ dãi gây ra. Lần này, với nguy cơ nợ xấu từ các khoản vay buộc phải tái cơ cấu do ảnh hưởng của dịch bệnh, mà chưa biết sẽ còn kéo dài đến đâu, bài toán nợ xấu đang quay trở lại với hệ thống ngân hàng.

Xử lý nợ xấu – tiếp tục là bài toán khó!

Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng thứ hai là “nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ”. Có thể thấy mục tiêu xử lý nợ xấu đã được đặt ra liên tiếp trong suốt 15 năm qua, từ Đề án tái cơ cấu 254 cho giai đoạn 2011-2015, đến Đề án 1058 cho giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục được nhắc lại ở đề án lần này cho giai đoạn 2021-2025, cho thấy nợ xấu luôn là căn bệnh nan y dai dẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nếu như giai đoạn trước nợ xấu phát sinh từ việc sở hữu chéo kéo theo tình trạng cho vay sân sau của các ông chủ ngân hàng, cũng như rót vốn ồ ạt vào các dự án bất động sản, doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lần này nợ xấu đến từ những nguyên nhân mang tính khách quan hơn – đó là vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Đáng lưu ý là nếu như giai đoạn 2016-2020 việc xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả khá tốt, thì chỉ cần từ năm ngoái đến nay nợ xấu lại có nguy cơ tăng vọt và xóa nhòa thành quả này.

Mới đây nhất, số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đến cuối tháng 6 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ cơ cấu lại do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% – cao hơn con số 5,08% cuối năm 2020, tương đương con số tuyệt đối là gần 705.500 tỉ đồng, dù sáu tháng đầu năm nay cũng đã xử lý được số nợ xấu nội bảng 78.860 tỉ đồng.

Rõ ràng với các khoản nợ tái cơ cấu thời gian tới không thể xử lý được và buộc phải chuyển thành nợ xấu khi thời hạn tái cơ cấu kết thúc, có thể thấy mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% là khá thách thức. Nếu nhìn vào tình hình nền kinh tế hiện nay và triển vọng không quá lạc quan trong giai đoạn tới, cũng như bài toán thiếu hụt lực lượng lao động tại các trung tâm kinh tế hậu giãn cách, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đi lên, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng, các khoản cho vay của ngân hàng cũng có thể tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trước triển vọng không mấy sáng sủa này, dễ hiểu vì sao mục tiêu từng bước phát triển thị trường nợ đi kèm theo sau mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%. Rõ ràng việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn tới không chỉ cần đến nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế mà còn cần thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Nhưng, xu hướng chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại như đã nói, sẽ hạn chế dòng vốn quốc tế tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu trong nước.

Vì lẽ đó, NHNN cũng đã sớm có đề xuất xây dựng Luật xử lý nợ xấu theo hướng tiếp tục kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42/2017/QH14, khi kết quả cho thấy việc xử lý nợ xấu theo các giải pháp đột phá của Nghị quyết 42 trong bốn năm qua đã đạt những thành tựu nhất định.

Thống kê cho thấy xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15-8-2017 đến 30-6-2021, là 359.410 tỉ đồng, trong đó thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỉ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình trong giai đoạn 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị, trong một số ít trường hợp, có khả năng sử dụng một số nguồn lực nhà nước nhất định để thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt là việc cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Cần nhắc lại rằng việc sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng đã được thảo luận trong suốt giai đoạn 2011-2015 và kế tiếp là 2016-2020, nhưng chưa bao giờ được thông qua.

Kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 theo tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở nội dung cơ cấu lại hệ thống các TCTD đặt ra sáu mục tiêu cụ thể như sau:

1. Giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế.

2. Nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ.

3. Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD; nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của các TCTD.

4. Có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tất cả ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm áp dụng Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

5. Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển mô hình ngân hàng số nhằm gia tăng trải nghiệm khách hàng trên cơ sở ứng dụng các công nghệ CMCN 4.0. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thụy Lê/thesaigontimes.vn

Tin bài khác
Ngân hàng dẫn dắt “mùa lợi nhuận” quý I/2026: Tăng trưởng cao, đồng đều

Ngân hàng dẫn dắt “mùa lợi nhuận” quý I/2026: Tăng trưởng cao, đồng đều

Trong bối cảnh thị trường vẫn chịu tác động từ lãi suất cao và biến động địa chính trị, nhóm ngân hàng được dự báo tiếp tục giữ vai trò trụ cột lợi nhuận, đồng thời nổi lên là khu vực có chất lượng tăng trưởng ổn định nhất trong quý I/2026.
Lãi suất ngân hàng ngày 6/4/2026: Mặt bằng tiếp tục neo cao, chạm đỉnh 9,2%

Lãi suất ngân hàng ngày 6/4/2026: Mặt bằng tiếp tục neo cao, chạm đỉnh 9,2%

Lãi suất ngân hàng ngày 6/4/2026 tiếp tục duy trì ở mức cao, nhiều nhà băng tung ưu đãi hấp dẫn, trong đó mức lãi suất cao nhất đã chạm ngưỡng 9,2%/năm trên thị trường.
Lãi suất ngân hàng ngày 4/4/2026: Tăng mạnh, cuộc đua huy động nóng lên

Lãi suất ngân hàng ngày 4/4/2026: Tăng mạnh, cuộc đua huy động nóng lên

Lãi suất ngân hàng ngày 4/4/2026 tiếp tục tăng mạnh, nhiều mức vượt 9%/năm, phản ánh cuộc đua huy động vốn ngày càng sôi động giữa các ngân hàng trên thị trường tài chính hiện nay.
VDB được chủ động xóa phí bảo lãnh với doanh nghiệp phá sản, giải thể

VDB được chủ động xóa phí bảo lãnh với doanh nghiệp phá sản, giải thể

Chính phủ vừa sửa đổi quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại, trong đó trao thêm quyền cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) trong xử lý phí bảo lãnh và nợ vay bắt buộc. Điểm đáng chú ý là VDB được tự xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh với doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể sau khi hoàn tất thanh lý tài sản theo quy định.
Lãi suất ngân hàng ngày 3/4/2026: Nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 8%

Lãi suất ngân hàng ngày 3/4/2026: Nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 8%

Lãi suất ngân hàng ngày 3/4/2026 ghi nhận xu hướng tăng mạnh, nhiều nhà băng niêm yết mức trên 8%/năm, thậm chí chạm ngưỡng 10%, tạo sức hút lớn với dòng tiền gửi tiết kiệm trong bối cảnh thị trường biến động.
Lãi suất huy động

Lãi suất huy động 'nóng' lên từng ngày, xuất hiện ngân hàng neo kỷ lục 10%/năm

Nhìn chung, lãi suất huy động đã được đẩy lên ở các kỳ hạn từ 1 năm trở lên với mức cao nhất đang ở 10%/năm ghi nhận tại PVcomBank. Trước đà tăng nóng của lãi suất huy động tại các nhà băng, mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã có Công văn việc thực hiện các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất.
Lãi suất ngân hàng ngày 2/4/2026: Tăng mạnh, ngân hàng nào cao nhất?

Lãi suất ngân hàng ngày 2/4/2026: Tăng mạnh, ngân hàng nào cao nhất?

Lãi suất ngân hàng ngày 2/4/2026 tiếp tục tăng trên diện rộng, nhiều nhà băng điều chỉnh liên tiếp, xuất hiện mức lãi suất vượt 9%/năm, thu hút dòng tiền gửi quay trở lại hệ thống tài chính.
Thanh toán không tiền mặt tăng hơn 40%

Thanh toán không tiền mặt tăng hơn 40%

Thanh toán không dùng tiền mặt đang duy trì đà tăng trưởng mạnh trong những tháng đầu năm 2026, không chỉ ở đô thị mà còn lan rộng về nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo. Cùng với đó, việc kết nối dữ liệu dân cư, xác thực sinh trắc học và làm sạch dữ liệu khách hàng theo Đề án 06 đang tạo thêm nền tảng để ngành ngân hàng mở rộng dịch vụ số an toàn hơn, sâu hơn và thuận tiện hơn cho người dân, doanh nghiệp.
Ngân hàng Nhà nước ra công văn hỏa tốc chặn đua lãi suất

Ngân hàng Nhà nước ra công văn hỏa tốc chặn đua lãi suất

Cuộc đua lãi suất huy động đã nóng trở lại khi nhiều ngân hàng nâng mạnh mức niêm yết, có nơi lên 9-9,2%/năm. Trong bối cảnh thanh khoản chịu áp lực, tỷ giá còn nhạy cảm và chi phí vốn có nguy cơ tăng theo, Ngân hàng Nhà nước đã ra công văn hỏa tốc yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất.
Vietcombank cảnh báo poster lãi suất giả: Bẫy mới nhắm vào người gửi tiền

Vietcombank cảnh báo poster lãi suất giả: Bẫy mới nhắm vào người gửi tiền

Vietcombank vừa phát đi cảnh báo về một biến thể lừa đảo mới trên mạng xã hội: dùng poster mang màu sắc, logo và thông điệp lãi suất hấp dẫn giống ngân hàng để dụ người dùng quét mã QR hoặc gọi vào số lạ. Thủ đoạn này cho thấy kẻ gian không còn chỉ gửi link giả mạo, mà đang chuyển sang “đóng gói” bẫy lừa dưới vỏ bọc ấn phẩm truyền thông để đánh vào tâm lý săn lãi suất và sự chủ quan của người dùng.
Từ ngày 1/4, ngân hàng dừng tài khoản biệt danh, bắt buộc hiển thị tên thật

Từ ngày 1/4, ngân hàng dừng tài khoản biệt danh, bắt buộc hiển thị tên thật

Từ ngày 1/4/2026, quy định mới trong lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt bắt đầu tác động trực tiếp tới người dùng ngân hàng: nhiều dịch vụ tài khoản biệt danh như Alias, Nickname, iNick bị dừng, thay bằng việc hiển thị tên chủ tài khoản theo thông tin pháp lý. Thay đổi này không làm mất số tài khoản hay số dư, nhưng buộc người dùng phải rà soát lại cách nhận tiền trên các nền tảng và với đối tác để tránh lỗi giao dịch.
Lãi suất ngân hàng ngày 1/4/2026: Nhiều ngân hàng vượt mốc 9%

Lãi suất ngân hàng ngày 1/4/2026: Nhiều ngân hàng vượt mốc 9%

Lãi suất ngân hàng ngày 1/4/2026 tăng mạnh, nhiều nhà băng áp dụng mức trên 9% mỗi năm, phản ánh áp lực thanh khoản và diễn biến phức tạp của thị trường tiền tệ hiện nay.
Nhiều ngân hàng được dự báo lãi lớn ngay trong quý đầu năm 2026

Nhiều ngân hàng được dự báo lãi lớn ngay trong quý đầu năm 2026

Nhiều ngân hàng được dự báo lãi trước thuế quý 1/2026 vẫn tăng trưởng rất mạnh, trong đó, VPBank dẫn đầu khi tăng trưởng 50%, HDBank thứ 2 khi tăng 23%, nhưng con số lãi tuyệt đối vẫn thuộc Big4.
TS. Nguyễn Quốc Hùng: Thanh toán số mở lối vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

TS. Nguyễn Quốc Hùng: Thanh toán số mở lối vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

TS. Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh thanh toán hiện đại là chìa khóa hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vưa (SME) tiếp cận vốn, tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng, qua đó thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong bối cảnh kinh tế nhiều thách thức.
Lãi suất cho vay sẽ được giám sát chặt hơn trên website các ngân hàng

Lãi suất cho vay sẽ được giám sát chặt hơn trên website các ngân hàng

Việc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng công bố đầy đủ lãi suất cho vay trên website, đồng thời tăng cường thanh tra, giám sát diễn biến lãi suất, không chỉ là động thái điều hành kỹ thuật. Đây còn là tín hiệu cho thấy nhà điều hành đang đặt trọng tâm vào minh bạch hóa chi phí vốn, ổn định mặt bằng lãi suất và bảo vệ khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế cần thêm động lực tăng trưởng.