Thứ năm 23/04/2026 11:31
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Thách thức giảm lãi suất cho vay và nợ xấu

18/10/2021 15:05
Trong kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Tiếp tục tái cơ cấu các tổ chức tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế

Sau năm năm tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với một số kết quả nhất định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gần đây tiếp tục đề xuất kế hoạch cơ cấu nền kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, với năm nội dung trọng tâm và chín nhóm chỉ tiêu cụ thể.

Kế hoạch trên đặt ra giữa lúc nền kinh tế đang phải vật lộn với tăng trưởng suy giảm và bất ổn gia tăng do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, đe dọa sự sống còn của hệ thống doanh nghiệp, cũng như nguy cơ nợ xấu tăng vọt trong hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu cho giai đoạn tới, nhằm hướng đến việc củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

Yêu cầu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đưa ra sáu mục tiêu cụ thể đi kèm với bảy nhóm nhiệm vụ – giải pháp, trong đó bên cạnh các mục tiêu mới cũng có những mục tiêu cũ mà đề án tái cơ cấu đặt ra trước đây chưa kịp hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây chỉ tập trung vào hai mục tiêu đầu tiên mà cũng có thể xem là quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Mục tiêu giảm lãi suất cho vay: không dễ!

Mục tiêu đầu tiên tiếp tục là “giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế”. Vấn đề đặt ra ở đây: mức “chênh lệch” bao nhiêu được xem là hợp lý và có tính cạnh tranh?

Dù mặt bằng lãi suất cho vay lẫn tiền gửi đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các đợt giảm lãi suất cho vay bao giờ cũng chậm hơn và ít hơn so với mức giảm của lãi suất tiền gửi. Điều này, một phần bởi vì chênh lệch đáo hạn giữa hoạt động cho vay và huy động, khi các ngân hàng có xu hướng huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn, theo đó khoảng cách giữa các lần điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng cho vay thường dài hơn, cũng như phụ thuộc vào chính sách và động lực của chính các ngân hàng.

Hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động phổ biến nằm trong khoảng từ 2,5-5 điểm phần trăm/năm tùy theo sản phẩm và kỳ hạn, cá biệt những khoản vay tiêu dùng tín chấp chênh lệch có thể lên tới 7-8 điểm phần trăm/năm.

Do đó, có thể thấy, mục tiêu giảm chênh lệch lãi suất cho vay và huy động xuống mức “hợp lý” còn chung chung khi vẫn chưa xác định được con số định lượng cụ thể.

Ngoài ra, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung bình trong thời gian tới cũng sẽ gặp không ít thách thức.

Đầu tiên là xu hướng thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất trở lại trên toàn cầu sẽ mạnh hơn trong những năm tới và Việt Nam có lẽ cũng khó lòng nằm ngoài xu hướng chung.

Thứ hai là xu hướng giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục đi lên hiện nay càng tạo thêm áp lực lạm phát cao quay trở lại, kéo theo áp lực lên lãi suất tiền gửi của ngân hàng.

Thứ ba là với chính sách kích cầu đầu tư công để thúc đẩy kinh tế phục hồi nhanh hơn, hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh triển khai kéo theo nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, từ đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn át, tức khi Chính phủ tăng vay nợ sẽ khiến lãi suất tăng và khu vực tư nhân bị hạn chế tiếp cận vốn hoặc phải chấp nhận lãi suất cao hơn.

Cuối cùng, gánh nặng nợ xấu cũng sẽ hạn chế động lực giảm thêm lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng, khi quá khứ những năm trước đây từng chứng kiến cục máu đông nợ xấu đã khiến các ngân hàng phải tìm cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao để bù đắp những thiệt hại do các khoản nợ xấu vì cho vay dễ dãi gây ra. Lần này, với nguy cơ nợ xấu từ các khoản vay buộc phải tái cơ cấu do ảnh hưởng của dịch bệnh, mà chưa biết sẽ còn kéo dài đến đâu, bài toán nợ xấu đang quay trở lại với hệ thống ngân hàng.

Xử lý nợ xấu – tiếp tục là bài toán khó!

Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng thứ hai là “nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ”. Có thể thấy mục tiêu xử lý nợ xấu đã được đặt ra liên tiếp trong suốt 15 năm qua, từ Đề án tái cơ cấu 254 cho giai đoạn 2011-2015, đến Đề án 1058 cho giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục được nhắc lại ở đề án lần này cho giai đoạn 2021-2025, cho thấy nợ xấu luôn là căn bệnh nan y dai dẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nếu như giai đoạn trước nợ xấu phát sinh từ việc sở hữu chéo kéo theo tình trạng cho vay sân sau của các ông chủ ngân hàng, cũng như rót vốn ồ ạt vào các dự án bất động sản, doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lần này nợ xấu đến từ những nguyên nhân mang tính khách quan hơn – đó là vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Đáng lưu ý là nếu như giai đoạn 2016-2020 việc xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả khá tốt, thì chỉ cần từ năm ngoái đến nay nợ xấu lại có nguy cơ tăng vọt và xóa nhòa thành quả này.

Mới đây nhất, số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đến cuối tháng 6 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ cơ cấu lại do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% – cao hơn con số 5,08% cuối năm 2020, tương đương con số tuyệt đối là gần 705.500 tỉ đồng, dù sáu tháng đầu năm nay cũng đã xử lý được số nợ xấu nội bảng 78.860 tỉ đồng.

Rõ ràng với các khoản nợ tái cơ cấu thời gian tới không thể xử lý được và buộc phải chuyển thành nợ xấu khi thời hạn tái cơ cấu kết thúc, có thể thấy mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% là khá thách thức. Nếu nhìn vào tình hình nền kinh tế hiện nay và triển vọng không quá lạc quan trong giai đoạn tới, cũng như bài toán thiếu hụt lực lượng lao động tại các trung tâm kinh tế hậu giãn cách, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đi lên, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng, các khoản cho vay của ngân hàng cũng có thể tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trước triển vọng không mấy sáng sủa này, dễ hiểu vì sao mục tiêu từng bước phát triển thị trường nợ đi kèm theo sau mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%. Rõ ràng việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn tới không chỉ cần đến nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế mà còn cần thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Nhưng, xu hướng chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại như đã nói, sẽ hạn chế dòng vốn quốc tế tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu trong nước.

Vì lẽ đó, NHNN cũng đã sớm có đề xuất xây dựng Luật xử lý nợ xấu theo hướng tiếp tục kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42/2017/QH14, khi kết quả cho thấy việc xử lý nợ xấu theo các giải pháp đột phá của Nghị quyết 42 trong bốn năm qua đã đạt những thành tựu nhất định.

Thống kê cho thấy xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15-8-2017 đến 30-6-2021, là 359.410 tỉ đồng, trong đó thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỉ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình trong giai đoạn 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị, trong một số ít trường hợp, có khả năng sử dụng một số nguồn lực nhà nước nhất định để thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt là việc cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Cần nhắc lại rằng việc sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng đã được thảo luận trong suốt giai đoạn 2011-2015 và kế tiếp là 2016-2020, nhưng chưa bao giờ được thông qua.

Kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 theo tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở nội dung cơ cấu lại hệ thống các TCTD đặt ra sáu mục tiêu cụ thể như sau:

1. Giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế.

2. Nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ.

3. Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD; nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của các TCTD.

4. Có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tất cả ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm áp dụng Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

5. Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển mô hình ngân hàng số nhằm gia tăng trải nghiệm khách hàng trên cơ sở ứng dụng các công nghệ CMCN 4.0. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thụy Lê/thesaigontimes.vn

Tin bài khác
Chốt hạn mức phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh cho hai ngân hàng chính sách

Chốt hạn mức phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh cho hai ngân hàng chính sách

Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026 do Bộ Tài chính công bố đã xác định cụ thể hạn mức phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh đối với hai tổ chức tài chính chính sách gồm Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội, qua đó góp phần siết chặt kỷ luật tài khóa, kiểm soát nghĩa vụ nợ dự phòng và nâng cao tính minh bạch trong quản lý nợ công.
Lãi suất ngân hàng ngày 23/4/2026: Kỳ hạn 12 tháng vẫn neo cao trên 7%

Lãi suất ngân hàng ngày 23/4/2026: Kỳ hạn 12 tháng vẫn neo cao trên 7%

Lãi suất ngân hàng ngày 23/4/2026, dù xu hướng giảm đã xuất hiện tại nhiều ngân hàng, mặt bằng lãi suất tiết kiệm vẫn duy trì mức cao ở các kỳ hạn dài.
Sacombank đổi tên, ông Nguyễn Đức Thụy làm Phó Chủ tịch thường trực HĐQT

Sacombank đổi tên, ông Nguyễn Đức Thụy làm Phó Chủ tịch thường trực HĐQT

Sacombank chính thức đổi tên thành Sài Gòn Tài Lộc và HĐQT của ngân hàng này cũng bầu ông Nguyễn Đức Thuỵ là Phó Chủ tịch thường trực.
HDBank đẩy mạnh tài trợ theo chuỗi, tín chấp tới 5 tỷ đồng cho hệ sinh thái phân phối

HDBank đẩy mạnh tài trợ theo chuỗi, tín chấp tới 5 tỷ đồng cho hệ sinh thái phân phối

Bám sát đặc thù luân chuyển hàng hóa và dòng tiền nhanh của ngành hàng Tiêu dùng nhanh (FMCG) và kênh phân phối, HDBank chính thức đẩy mạnh mô hình “Tài trợ theo chuỗi”. Thay vì cấp tín dụng đơn lẻ, dòng vốn được thiết kế liền mạch theo hành trình của hàng hóa, với các chính sách đột phá: tài trợ tới 100% giá trị tài sản bảo đảm và hạn mức tín chấp đến 5 tỷ đồng.
Lãi suất cho vay bất động sản neo cao, giấc mơ an cư bị thử thách

Lãi suất cho vay bất động sản neo cao, giấc mơ an cư bị thử thách

Dù lãi suất huy động đã hạ nhiệt, lãi suất cho vay bất động sản vẫn neo cao do áp lực thanh khoản, lệch pha dòng vốn và nhu cầu tín dụng tăng, khiến thị trường phục hồi chậm.
Lãi suất ngân hàng ngày 22/4/2026: Kỳ hạn dài vượt 7%/năm, chênh lệch lớn

Lãi suất ngân hàng ngày 22/4/2026: Kỳ hạn dài vượt 7%/năm, chênh lệch lớn

Lãi suất ngân hàng ngày 22/4/2026 tiếp tục phân hóa rõ rệt giữa các kỳ hạn, trong đó nhóm trung và dài hạn ghi nhận nhiều mức vượt 6–7%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn vẫn duy trì ở mức thấp.
Ngân hàng vào cuộc: Hành trình từ  ‘cấp vốn’ đến ‘kiến tạo phát triển’ trong Đổi Mới 2.0

Ngân hàng vào cuộc: Hành trình từ ‘cấp vốn’ đến ‘kiến tạo phát triển’ trong Đổi Mới 2.0

Chỉ vài năm trước, định nghĩa về việc đến ngân hàng rất đơn giản: người có tiền mang đi gửi tiết kiệm, người thiếu tiền mang tài sản đến thế chấp để vay vốn. Về bản chất, ngân hàng đóng vai trò một trạm trung chuyển ở giữa. Nhưng hiện nay, bước vào giai đoạn Đổi Mới 2.0, vai trò của ngành ngân hàng đã đổi khác
Vụ khách hàng bị mất 5 tỷ đồng: Kienlongbank sẽ chủ động phối hợp điều tra

Vụ khách hàng bị mất 5 tỷ đồng: Kienlongbank sẽ chủ động phối hợp điều tra

Sau phản ánh của khách hàng về giao dịch bất thường, ngân hàng cho biết đã nhanh chóng vào cuộc kiểm tra, đồng thời cảnh báo các chiêu thức lừa đảo tài chính trên mạng xã hội.
SeABank ra mắt SeAPayment - Nền tảng quản lý thanh toán kiểm soát dòng tiền

SeABank ra mắt SeAPayment - Nền tảng quản lý thanh toán kiểm soát dòng tiền

SeABank chính thức ra mắt SeAPayment - Nền tảng quản lý thanh toán toàn diện dành cho cá nhân và hộ kinh doanh. Với khả năng kiểm soát doanh thu theo thời gian thực, giúp chủ shop tối ưu vận hành và chuyên nghiệp hóa mô hình kinh doanh.
LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026 ghi nhận những điểm sáng tích cực trong hoạt động kinh doanh cốt lõi với lợi nhuận trước thuế đạt 2.826 tỷ đồng. Bất chấp những thách thức chung của thị trường, LPBank tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tín dụng tốt, đa dạng hóa nguồn thu hiệu quả và đặc biệt ghi dấu ấn bằng chiến lược quản trị rủi ro chủ động, an toàn.
Lãi suất ngân hàng ngày 21/4/2026: Giảm sâu diện rộng, xuất hiện mức 10%

Lãi suất ngân hàng ngày 21/4/2026: Giảm sâu diện rộng, xuất hiện mức 10%

Lãi suất ngân hàng ngày 21/4 tiếp tục xu hướng giảm mạnh khi hàng loạt nhà băng điều chỉnh biểu huy động, trong khi một số gói đặc biệt vẫn duy trì mức cao lên tới 10%/năm với điều kiện khắt khe.
Lãi suất ngân hàng ngày 20/4/2026: Big4 giảm mạnh, lãi suất cao vẫn xuất hiện

Lãi suất ngân hàng ngày 20/4/2026: Big4 giảm mạnh, lãi suất cao vẫn xuất hiện

Lãi suất ngân hàng ngày 20/4/2026, nhiều ngân hàng hạ lãi suất huy động, đặc biệt nhóm Big4. Tuy vậy, thị trường vẫn xuất hiện các gói lãi suất cao tới 10%/năm .
Kiều hối về TP.HCM giảm gần 17% trong quý I

Kiều hối về TP.HCM giảm gần 17% trong quý I

Lượng kiều hối chuyển về TP.HCM trong quý I/2026 đạt hơn 2 tỷ USD, giảm mạnh so với cả quý trước lẫn cùng kỳ năm ngoái. Theo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 2, xu hướng này phản ánh tác động đan xen từ kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, lạm phát cao, chính sách tiền tệ thắt chặt và yếu tố mùa vụ sau giai đoạn cao điểm cuối năm.
Lãi suất ngân hàng ngày 18/4/2026: 29 ngân hàng giảm mạnh, đâu cao nhất?

Lãi suất ngân hàng ngày 18/4/2026: 29 ngân hàng giảm mạnh, đâu cao nhất?

Lãi suất ngân hàng ngày 18/4/2026 ghi nhận xu hướng giảm diện rộng sau chỉ đạo điều hành. Tuy nhiên, nhiều gói ưu đãi đặc biệt vẫn neo cao tới 10%/năm, tạo chênh lệch lớn trên thị trường.
Những cái tên mở màn đường đua lợi nhuận nghìn tỷ ngành ngân hàng

Những cái tên mở màn đường đua lợi nhuận nghìn tỷ ngành ngân hàng

Nhiều ngân hàng đã tiết lộ con số lợi nhuận trong quý đầu năm 2026 với những con số nghìn tỷ đồng.