Thứ hai 27/07/2026 18:34
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Thách thức giảm lãi suất cho vay và nợ xấu

18/10/2021 15:05
Trong kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Tiếp tục tái cơ cấu các tổ chức tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế

Sau năm năm tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với một số kết quả nhất định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gần đây tiếp tục đề xuất kế hoạch cơ cấu nền kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, với năm nội dung trọng tâm và chín nhóm chỉ tiêu cụ thể.

Kế hoạch trên đặt ra giữa lúc nền kinh tế đang phải vật lộn với tăng trưởng suy giảm và bất ổn gia tăng do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, đe dọa sự sống còn của hệ thống doanh nghiệp, cũng như nguy cơ nợ xấu tăng vọt trong hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu cho giai đoạn tới, nhằm hướng đến việc củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

Yêu cầu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đưa ra sáu mục tiêu cụ thể đi kèm với bảy nhóm nhiệm vụ – giải pháp, trong đó bên cạnh các mục tiêu mới cũng có những mục tiêu cũ mà đề án tái cơ cấu đặt ra trước đây chưa kịp hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây chỉ tập trung vào hai mục tiêu đầu tiên mà cũng có thể xem là quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Mục tiêu giảm lãi suất cho vay: không dễ!

Mục tiêu đầu tiên tiếp tục là “giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế”. Vấn đề đặt ra ở đây: mức “chênh lệch” bao nhiêu được xem là hợp lý và có tính cạnh tranh?

Dù mặt bằng lãi suất cho vay lẫn tiền gửi đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các đợt giảm lãi suất cho vay bao giờ cũng chậm hơn và ít hơn so với mức giảm của lãi suất tiền gửi. Điều này, một phần bởi vì chênh lệch đáo hạn giữa hoạt động cho vay và huy động, khi các ngân hàng có xu hướng huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn, theo đó khoảng cách giữa các lần điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng cho vay thường dài hơn, cũng như phụ thuộc vào chính sách và động lực của chính các ngân hàng.

Hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động phổ biến nằm trong khoảng từ 2,5-5 điểm phần trăm/năm tùy theo sản phẩm và kỳ hạn, cá biệt những khoản vay tiêu dùng tín chấp chênh lệch có thể lên tới 7-8 điểm phần trăm/năm.

Do đó, có thể thấy, mục tiêu giảm chênh lệch lãi suất cho vay và huy động xuống mức “hợp lý” còn chung chung khi vẫn chưa xác định được con số định lượng cụ thể.

Ngoài ra, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung bình trong thời gian tới cũng sẽ gặp không ít thách thức.

Đầu tiên là xu hướng thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất trở lại trên toàn cầu sẽ mạnh hơn trong những năm tới và Việt Nam có lẽ cũng khó lòng nằm ngoài xu hướng chung.

Thứ hai là xu hướng giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục đi lên hiện nay càng tạo thêm áp lực lạm phát cao quay trở lại, kéo theo áp lực lên lãi suất tiền gửi của ngân hàng.

Thứ ba là với chính sách kích cầu đầu tư công để thúc đẩy kinh tế phục hồi nhanh hơn, hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh triển khai kéo theo nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, từ đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn át, tức khi Chính phủ tăng vay nợ sẽ khiến lãi suất tăng và khu vực tư nhân bị hạn chế tiếp cận vốn hoặc phải chấp nhận lãi suất cao hơn.

Cuối cùng, gánh nặng nợ xấu cũng sẽ hạn chế động lực giảm thêm lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng, khi quá khứ những năm trước đây từng chứng kiến cục máu đông nợ xấu đã khiến các ngân hàng phải tìm cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao để bù đắp những thiệt hại do các khoản nợ xấu vì cho vay dễ dãi gây ra. Lần này, với nguy cơ nợ xấu từ các khoản vay buộc phải tái cơ cấu do ảnh hưởng của dịch bệnh, mà chưa biết sẽ còn kéo dài đến đâu, bài toán nợ xấu đang quay trở lại với hệ thống ngân hàng.

Xử lý nợ xấu – tiếp tục là bài toán khó!

Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng thứ hai là “nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ”. Có thể thấy mục tiêu xử lý nợ xấu đã được đặt ra liên tiếp trong suốt 15 năm qua, từ Đề án tái cơ cấu 254 cho giai đoạn 2011-2015, đến Đề án 1058 cho giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục được nhắc lại ở đề án lần này cho giai đoạn 2021-2025, cho thấy nợ xấu luôn là căn bệnh nan y dai dẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nếu như giai đoạn trước nợ xấu phát sinh từ việc sở hữu chéo kéo theo tình trạng cho vay sân sau của các ông chủ ngân hàng, cũng như rót vốn ồ ạt vào các dự án bất động sản, doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lần này nợ xấu đến từ những nguyên nhân mang tính khách quan hơn – đó là vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Đáng lưu ý là nếu như giai đoạn 2016-2020 việc xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả khá tốt, thì chỉ cần từ năm ngoái đến nay nợ xấu lại có nguy cơ tăng vọt và xóa nhòa thành quả này.

Mới đây nhất, số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đến cuối tháng 6 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ cơ cấu lại do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% – cao hơn con số 5,08% cuối năm 2020, tương đương con số tuyệt đối là gần 705.500 tỉ đồng, dù sáu tháng đầu năm nay cũng đã xử lý được số nợ xấu nội bảng 78.860 tỉ đồng.

Rõ ràng với các khoản nợ tái cơ cấu thời gian tới không thể xử lý được và buộc phải chuyển thành nợ xấu khi thời hạn tái cơ cấu kết thúc, có thể thấy mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% là khá thách thức. Nếu nhìn vào tình hình nền kinh tế hiện nay và triển vọng không quá lạc quan trong giai đoạn tới, cũng như bài toán thiếu hụt lực lượng lao động tại các trung tâm kinh tế hậu giãn cách, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đi lên, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng, các khoản cho vay của ngân hàng cũng có thể tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trước triển vọng không mấy sáng sủa này, dễ hiểu vì sao mục tiêu từng bước phát triển thị trường nợ đi kèm theo sau mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%. Rõ ràng việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn tới không chỉ cần đến nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế mà còn cần thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Nhưng, xu hướng chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại như đã nói, sẽ hạn chế dòng vốn quốc tế tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu trong nước.

Vì lẽ đó, NHNN cũng đã sớm có đề xuất xây dựng Luật xử lý nợ xấu theo hướng tiếp tục kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42/2017/QH14, khi kết quả cho thấy việc xử lý nợ xấu theo các giải pháp đột phá của Nghị quyết 42 trong bốn năm qua đã đạt những thành tựu nhất định.

Thống kê cho thấy xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15-8-2017 đến 30-6-2021, là 359.410 tỉ đồng, trong đó thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỉ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình trong giai đoạn 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị, trong một số ít trường hợp, có khả năng sử dụng một số nguồn lực nhà nước nhất định để thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt là việc cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Cần nhắc lại rằng việc sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng đã được thảo luận trong suốt giai đoạn 2011-2015 và kế tiếp là 2016-2020, nhưng chưa bao giờ được thông qua.

Kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 theo tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở nội dung cơ cấu lại hệ thống các TCTD đặt ra sáu mục tiêu cụ thể như sau:

1. Giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế.

2. Nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ.

3. Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD; nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của các TCTD.

4. Có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tất cả ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm áp dụng Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

5. Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển mô hình ngân hàng số nhằm gia tăng trải nghiệm khách hàng trên cơ sở ứng dụng các công nghệ CMCN 4.0. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thụy Lê/thesaigontimes.vn

Tin bài khác
Ngân hàng VIB báo lãi 5.180 tỷ, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng

Ngân hàng VIB báo lãi 5.180 tỷ, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng

Kết thúc nửa đầu năm 2026, ngân hàng VIB ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng ổn định, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng, đồng thời duy trì các chỉ số an toàn cao trong bối cảnh thị trường tài chính nhiều biến động.
VIB lãi 5.180 tỷ đồng, tài sản vượt 580 nghìn tỷ trong 6 tháng

VIB lãi 5.180 tỷ đồng, tài sản vượt 580 nghìn tỷ trong 6 tháng

Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 5.180 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ. Trong bối cảnh thị trường tài chính tiếp tục cạnh tranh về lãi suất và tín dụng, VIB duy trì tăng trưởng trên nền tảng tài chính an toàn, chất lượng tài sản cải thiện và hiệu quả hoạt động ổn định.
Agribank dành 55.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển

Agribank dành 55.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi hỗ trợ hộ kinh doanh phát triển

Agribank triển khai các gói tín dụng ưu đãi quy mô lớn dành cho hộ kinh doanh và cá nhân sản xuất, kinh doanh với lãi suất cạnh tranh, góp phần bổ sung nguồn vốn, thúc đẩy mở rộng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và đồng hành cùng quá trình phục hồi, phát triển kinh tế.
Saigonbank lỗ quý II, huy động tiền gửi từ người dân suy giảm

Saigonbank lỗ quý II, huy động tiền gửi từ người dân suy giảm

Việc thua lỗ trong quý II đã khéo lùi kết quả kinh doanh của Saigonbank trong nửa đầu năm. Với 48 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, ngân hàng mới hoàn thành khoảng 15% kế hoạch lợi nhuận cả năm, đồng nghĩa áp lực hoàn thành mục tiêu kinh doanh trong 6 tháng cuối năm là rất lớn.
Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank: Tín nhiệm là chìa khóa tiếp cận vốn bền vững

Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank: Tín nhiệm là chìa khóa tiếp cận vốn bền vững

Theo Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank lãi suất chịu áp lực từ thị trường, nhưng xếp hạng tín nhiệm đang mở ra hướng đi mới giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, giảm phụ thuộc tài sản đảm bảo.
Lãi suất ngân hàng ngày 27/7/2026: Mặt bằng ổn định, chênh lệch rõ giữa các nhóm

Lãi suất ngân hàng ngày 27/7/2026: Mặt bằng ổn định, chênh lệch rõ giữa các nhóm

Lãi suất ngân hàng ngày 27/7/2026 ghi nhận lãi suất huy động tiếp tục duy trì ổn định, dao động mạnh giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và tư nhân.
Ngân hàng đẩy mạnh chứng chỉ tiền gửi lãi suất cao, cạnh tranh huy động vốn gay gắt

Ngân hàng đẩy mạnh chứng chỉ tiền gửi lãi suất cao, cạnh tranh huy động vốn gay gắt

Trước áp lực thanh khoản và tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng tăng tốc phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất lên tới 9%/năm, tạo cuộc đua huy động vốn ngày càng gay gắt.
Lãi suất ngân hàng ngày 25/7/2026: Kỳ hạn 12 tháng cao nhất chạm mốc 10%

Lãi suất ngân hàng ngày 25/7/2026: Kỳ hạn 12 tháng cao nhất chạm mốc 10%

Lãi suất ngân hàng ngày 25/7/2026 tiếp tục duy trì mặt bằng cao ở nhiều kỳ hạn, đặc biệt kỳ hạn 12 tháng ghi nhận mức cao nhất lên tới 10%/năm, song đi kèm điều kiện tiền gửi lớn.
Ngân hàng Nhà nước tăng cường năng lực giám sát tài sản mã hóa, phòng chống rửa tiền

Ngân hàng Nhà nước tăng cường năng lực giám sát tài sản mã hóa, phòng chống rửa tiền

Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) vừa phối hợp với các chuyên gia quốc tế tổ chức chương trình trao đổi về quản lý, giám sát tài sản mã hóa và phòng, chống rửa tiền.
Dòng vốn xanh tăng tốc khi ngân hàng và doanh nghiệp cùng chuyển đổi mạnh mẽ

Dòng vốn xanh tăng tốc khi ngân hàng và doanh nghiệp cùng chuyển đổi mạnh mẽ

Dòng vốn xanh đang mở rộng nhanh khi ngân hàng hoàn thiện chính sách, doanh nghiệp chủ động chuyển đổi, tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng ACB vượt 1.000 tỷ đồng trong quý II

Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng ACB vượt 1.000 tỷ đồng trong quý II

Trong quý II/2026, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của ACB tăng từ 463 tỷ đồng cùng kỳ lên 1.060 tỷ đồng tương đương mức tăng gần gấp 2,3 lần. Việc tăng mạnh trích lập dự phòng đã kéo lợi nhuận trước thuế của ACB giảm còn 5.367 tỷ đồng, thấp hơn 12% so với cùng kỳ.
Lãi suất ngân hàng ngày 24/7/2026: Nhóm Big4 giữ ổn định, ngân hàng tư tăng nhẹ

Lãi suất ngân hàng ngày 24/7/2026: Nhóm Big4 giữ ổn định, ngân hàng tư tăng nhẹ

Lãi suất ngân hàng ngày 24/7/2026 ghi nhận xu hướng ổn định tại nhóm Big4, trong khi nhiều ngân hàng thương mại cổ phần điều chỉnh tăng nhẹ ở các kỳ hạn dài nhằm thu hút dòng tiền gửi.
Phú Thọ: Tín dụng chính sách đạt hơn 20 nghìn tỷ đồng sau 6 tháng

Phú Thọ: Tín dụng chính sách đạt hơn 20 nghìn tỷ đồng sau 6 tháng

Đến hết tháng 6/2026, dư nợ tín dụng chính sách tại Phú Thọ đạt hơn 20.223 tỷ đồng, góp phần tạo việc làm, hỗ trợ nhà ở xã hội và thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Cựu CEO Techcombank Nguyễn Lê Quốc Anh ứng cử HĐQT Eximbank

Cựu CEO Techcombank Nguyễn Lê Quốc Anh ứng cử HĐQT Eximbank

Cựu CEO Techcombank Nguyễn Lê Quốc Anh bất ngờ ứng cử vào HĐQT Eximbank, mở ra kỳ vọng thay đổi nhân sự cấp cao và chiến lược phát triển của ngân hàng trong giai đoạn mới.
Lãi suất ngân hàng ngày 23/7/2026: Mặt bằng huy động tiếp tục ổn định

Lãi suất ngân hàng ngày 23/7/2026: Mặt bằng huy động tiếp tục ổn định

Lãi suất ngân hàng ngày 23/7/2026 tiếp tục duy trì ổn định ở nhiều kỳ hạn. Một số nhà băng giữ mức cạnh tranh nhằm thu hút dòng tiền gửi trong bối cảnh thị trường tài chính còn nhiều biến động.