Thứ sáu 17/04/2026 09:41
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Thách thức giảm lãi suất cho vay và nợ xấu

18/10/2021 15:05
Trong kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Tiếp tục tái cơ cấu các tổ chức tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế

Sau năm năm tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với một số kết quả nhất định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gần đây tiếp tục đề xuất kế hoạch cơ cấu nền kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, với năm nội dung trọng tâm và chín nhóm chỉ tiêu cụ thể.

Kế hoạch trên đặt ra giữa lúc nền kinh tế đang phải vật lộn với tăng trưởng suy giảm và bất ổn gia tăng do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, đe dọa sự sống còn của hệ thống doanh nghiệp, cũng như nguy cơ nợ xấu tăng vọt trong hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu cho giai đoạn tới, nhằm hướng đến việc củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

Yêu cầu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đưa ra sáu mục tiêu cụ thể đi kèm với bảy nhóm nhiệm vụ – giải pháp, trong đó bên cạnh các mục tiêu mới cũng có những mục tiêu cũ mà đề án tái cơ cấu đặt ra trước đây chưa kịp hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây chỉ tập trung vào hai mục tiêu đầu tiên mà cũng có thể xem là quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Mục tiêu giảm lãi suất cho vay: không dễ!

Mục tiêu đầu tiên tiếp tục là “giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế”. Vấn đề đặt ra ở đây: mức “chênh lệch” bao nhiêu được xem là hợp lý và có tính cạnh tranh?

Dù mặt bằng lãi suất cho vay lẫn tiền gửi đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các đợt giảm lãi suất cho vay bao giờ cũng chậm hơn và ít hơn so với mức giảm của lãi suất tiền gửi. Điều này, một phần bởi vì chênh lệch đáo hạn giữa hoạt động cho vay và huy động, khi các ngân hàng có xu hướng huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn, theo đó khoảng cách giữa các lần điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng cho vay thường dài hơn, cũng như phụ thuộc vào chính sách và động lực của chính các ngân hàng.

Hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động phổ biến nằm trong khoảng từ 2,5-5 điểm phần trăm/năm tùy theo sản phẩm và kỳ hạn, cá biệt những khoản vay tiêu dùng tín chấp chênh lệch có thể lên tới 7-8 điểm phần trăm/năm.

Do đó, có thể thấy, mục tiêu giảm chênh lệch lãi suất cho vay và huy động xuống mức “hợp lý” còn chung chung khi vẫn chưa xác định được con số định lượng cụ thể.

Ngoài ra, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung bình trong thời gian tới cũng sẽ gặp không ít thách thức.

Đầu tiên là xu hướng thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất trở lại trên toàn cầu sẽ mạnh hơn trong những năm tới và Việt Nam có lẽ cũng khó lòng nằm ngoài xu hướng chung.

Thứ hai là xu hướng giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục đi lên hiện nay càng tạo thêm áp lực lạm phát cao quay trở lại, kéo theo áp lực lên lãi suất tiền gửi của ngân hàng.

Thứ ba là với chính sách kích cầu đầu tư công để thúc đẩy kinh tế phục hồi nhanh hơn, hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh triển khai kéo theo nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, từ đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn át, tức khi Chính phủ tăng vay nợ sẽ khiến lãi suất tăng và khu vực tư nhân bị hạn chế tiếp cận vốn hoặc phải chấp nhận lãi suất cao hơn.

Cuối cùng, gánh nặng nợ xấu cũng sẽ hạn chế động lực giảm thêm lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng, khi quá khứ những năm trước đây từng chứng kiến cục máu đông nợ xấu đã khiến các ngân hàng phải tìm cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao để bù đắp những thiệt hại do các khoản nợ xấu vì cho vay dễ dãi gây ra. Lần này, với nguy cơ nợ xấu từ các khoản vay buộc phải tái cơ cấu do ảnh hưởng của dịch bệnh, mà chưa biết sẽ còn kéo dài đến đâu, bài toán nợ xấu đang quay trở lại với hệ thống ngân hàng.

Xử lý nợ xấu – tiếp tục là bài toán khó!

Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng thứ hai là “nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ”. Có thể thấy mục tiêu xử lý nợ xấu đã được đặt ra liên tiếp trong suốt 15 năm qua, từ Đề án tái cơ cấu 254 cho giai đoạn 2011-2015, đến Đề án 1058 cho giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục được nhắc lại ở đề án lần này cho giai đoạn 2021-2025, cho thấy nợ xấu luôn là căn bệnh nan y dai dẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nếu như giai đoạn trước nợ xấu phát sinh từ việc sở hữu chéo kéo theo tình trạng cho vay sân sau của các ông chủ ngân hàng, cũng như rót vốn ồ ạt vào các dự án bất động sản, doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lần này nợ xấu đến từ những nguyên nhân mang tính khách quan hơn – đó là vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Đáng lưu ý là nếu như giai đoạn 2016-2020 việc xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả khá tốt, thì chỉ cần từ năm ngoái đến nay nợ xấu lại có nguy cơ tăng vọt và xóa nhòa thành quả này.

Mới đây nhất, số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đến cuối tháng 6 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ cơ cấu lại do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% – cao hơn con số 5,08% cuối năm 2020, tương đương con số tuyệt đối là gần 705.500 tỉ đồng, dù sáu tháng đầu năm nay cũng đã xử lý được số nợ xấu nội bảng 78.860 tỉ đồng.

Rõ ràng với các khoản nợ tái cơ cấu thời gian tới không thể xử lý được và buộc phải chuyển thành nợ xấu khi thời hạn tái cơ cấu kết thúc, có thể thấy mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% là khá thách thức. Nếu nhìn vào tình hình nền kinh tế hiện nay và triển vọng không quá lạc quan trong giai đoạn tới, cũng như bài toán thiếu hụt lực lượng lao động tại các trung tâm kinh tế hậu giãn cách, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đi lên, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng, các khoản cho vay của ngân hàng cũng có thể tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trước triển vọng không mấy sáng sủa này, dễ hiểu vì sao mục tiêu từng bước phát triển thị trường nợ đi kèm theo sau mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%. Rõ ràng việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn tới không chỉ cần đến nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế mà còn cần thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Nhưng, xu hướng chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại như đã nói, sẽ hạn chế dòng vốn quốc tế tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu trong nước.

Vì lẽ đó, NHNN cũng đã sớm có đề xuất xây dựng Luật xử lý nợ xấu theo hướng tiếp tục kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42/2017/QH14, khi kết quả cho thấy việc xử lý nợ xấu theo các giải pháp đột phá của Nghị quyết 42 trong bốn năm qua đã đạt những thành tựu nhất định.

Thống kê cho thấy xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15-8-2017 đến 30-6-2021, là 359.410 tỉ đồng, trong đó thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỉ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình trong giai đoạn 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị, trong một số ít trường hợp, có khả năng sử dụng một số nguồn lực nhà nước nhất định để thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt là việc cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Cần nhắc lại rằng việc sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng đã được thảo luận trong suốt giai đoạn 2011-2015 và kế tiếp là 2016-2020, nhưng chưa bao giờ được thông qua.

Kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 theo tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở nội dung cơ cấu lại hệ thống các TCTD đặt ra sáu mục tiêu cụ thể như sau:

1. Giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế.

2. Nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ.

3. Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD; nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của các TCTD.

4. Có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tất cả ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm áp dụng Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

5. Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển mô hình ngân hàng số nhằm gia tăng trải nghiệm khách hàng trên cơ sở ứng dụng các công nghệ CMCN 4.0. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thụy Lê/thesaigontimes.vn

Tin bài khác
Lãi suất ngân hàng ngày 17/4/2026: Ghi nhận xu hướng ổn định nhiều kỳ hạn

Lãi suất ngân hàng ngày 17/4/2026: Ghi nhận xu hướng ổn định nhiều kỳ hạn

Lãi suất ngân hàng ngày 17/4/2026 ghi nhận xu hướng ổn định ở nhiều kỳ hạn, một số nhà băng tiếp tục duy trì mức trên 6%/năm nhằm thu hút dòng tiền gửi trong bối cảnh cạnh tranh gia tăng.
Phát triển Open Banking giúp BVBank số hóa 80% quy trình cho vay

Phát triển Open Banking giúp BVBank số hóa 80% quy trình cho vay

BVBank phát triển Open Banking (API) để kết nối hệ sinh thái khách hàng và đối tác. Hiện nay, khoảng 80% quy trình cho vay đã được số hóa trong thu thập, phân tích dữ liệu và ra quyết định.
SeABank dẫn đầu xu hướng bảo vệ tiền gửi bằng mã số bảo mật, nâng cao an toàn tài chính

SeABank dẫn đầu xu hướng bảo vệ tiền gửi bằng mã số bảo mật, nâng cao an toàn tài chính

Không chỉ dừng lại ở việc số hóa trải nghiệm tiết kiệm, SeABank tiếp tục đón đầu xu hướng bảo mật tài chính với tính năng “Mã khóa bảo mật cho tiền gửi online”, bảo vệ tối đa tài sản cho khách hàng.
Lãi suất ngân hàng ngày 16/4/2026: Big4 đồng loạt giảm mạnh lần hai

Lãi suất ngân hàng ngày 16/4/2026: Big4 đồng loạt giảm mạnh lần hai

Lãi suất ngân hàng ngày 16/4/2026 tiếp tục ghi nhận xu hướng giảm khi Agribank hạ lần thứ hai chỉ trong chưa đầy một tuần, nối tiếp động thái từ BIDV, góp phần định hình mặt bằng lãi suất mới.
Ông Lê Xuân Nghĩa được bầu là thành viên độc lập của ngân hàng Phương Đông

Ông Lê Xuân Nghĩa được bầu là thành viên độc lập của ngân hàng Phương Đông

Năm 2026, OCB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% so với năm 2025. Trong nhiệm kỳ 2025-2030, ông Lê Xuân Nghĩa được bầu làm thành viên độc lập HĐQT của OCB, gia tăng năng lực quản trị cho ngân hàng.
Đằng sau làn sóng tăng vốn của ngân hàng

Đằng sau làn sóng tăng vốn của ngân hàng

Tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt xa huy động vốn, buộc nhiều ngân hàng bước vào cuộc đua tăng vốn quyết liệt trong mùa đại hội cổ đông năm nay. Sau những kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành riêng lẻ hay tăng vốn điều lệ, phía sau là yêu cầu cấp bách về năng lực tài chính để mở rộng tín dụng, đáp ứng chuẩn an toàn vốn và chuẩn bị cho chu kỳ tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Lãi suất ngân hàng ngày 15/4/2026: Ổn định, cao nhất 7,5%/năm

Lãi suất ngân hàng ngày 15/4/2026: Ổn định, cao nhất 7,5%/năm

Lãi suất ngân hàng ngày 15/4/2026 tiếp tục ổn định, dao động 2,1-7,5%/năm tùy kỳ hạn, trong đó nhóm ngân hàng thương mại cổ phần duy trì mức cạnh tranh cao hơn.
Từ nhà ở xã hội đến hạ tầng số, các gói tín dụng trọng điểm đang chuyển động ra sao?

Từ nhà ở xã hội đến hạ tầng số, các gói tín dụng trọng điểm đang chuyển động ra sao?

Tại họp báo công bố kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng quý I/2026 ngày 14/4, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết thời gian qua đã tích cực triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng, qua đó bước đầu ghi nhận nhiều kết quả khả quan ở các lĩnh vực ưu tiên.
NHNN giữ mục tiêu ổn định vĩ mô, hơn 20 ngân hàng đã giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp

NHNN giữ mục tiêu ổn định vĩ mô, hơn 20 ngân hàng đã giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp

Tại họp báo công bố kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng quý I/2026 ngày 14/4, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến số và sức ép lên tỷ giá, lãi suất, giá vàng vẫn hiện hữu.
Fintech Hub tại TP.HCM ra mắt, góp phần giúp thành phố hút dòng vốn đầu tư quốc tế hiệu quả

Fintech Hub tại TP.HCM ra mắt, góp phần giúp thành phố hút dòng vốn đầu tư quốc tế hiệu quả

Việc hợp tác giữa VIFC-HCMC với Sở Giao dịch Chứng khoán London là bước đi chiến lược, góp phần giúp TP.HCM hút dòng vốn đầu tư quốc tế hiệu quả, nâng cao chuẩn mực quản trị, tính minh bạch và thúc đẩy hội nhập sâu hơn vào thị trường tài chính toàn cầu.
Lãi suất ngân hàng ngày 14/4/2026: Phân hóa rõ nét, nhóm Big4 giữ mức thấp nhất

Lãi suất ngân hàng ngày 14/4/2026: Phân hóa rõ nét, nhóm Big4 giữ mức thấp nhất

Thị trường lãi suất ngân hàng ghi nhận sự phân hóa rõ rệt, với nhóm ngân hàng lớn duy trì mức thấp, trong khi một số ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất cao hơn đáng kể hiện nay.
Phó Chủ tịch SHB Đỗ Quang Vinh: Ngân hàng đồng hành hệ sinh thái kinh tế

Phó Chủ tịch SHB Đỗ Quang Vinh: Ngân hàng đồng hành hệ sinh thái kinh tế

Ông Đỗ Quang Vinh khẳng định SHB kiên định chiến lược gắn bó nền kinh tế thực, mở rộng hệ sinh thái tài chính, thúc đẩy doanh nghiệp lớn dẫn dắt tăng trưởng bền vững quốc gia.
Lãi suất ngân hàng ngày 13/4/2026: Chênh lệch mạnh, kỳ hạn dài vượt 7%

Lãi suất ngân hàng ngày 13/4/2026: Chênh lệch mạnh, kỳ hạn dài vượt 7%

Lãi suất ngân hàng ngày 13/4/2026 tiếp tục phân hóa rõ rệt giữa các kỳ hạn, trong đó nhóm ngân hàng đẩy mạnh lãi suất dài hạn vượt 7%/năm nhằm thu hút dòng tiền ổn định.
Open Banking thay đổi cách ngân hàng Việt tìm tăng trưởng

Open Banking thay đổi cách ngân hàng Việt tìm tăng trưởng

Thay vì tiếp tục cạnh tranh bằng số lượng chi nhánh hay độ “đồ sộ” của siêu ứng dụng, nhiều ngân hàng Việt đang chuyển hướng sang một mặt trận mới: hiện diện âm thầm nhưng sâu rộng trên các nền tảng số của đối tác. Cuộc đua Open API và tài chính nhúng vì thế không còn là câu chuyện công nghệ, mà dần trở thành chiến lược tăng trưởng và giữ dòng tiền sống còn của ngành ngân hàng.
Loạt ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất tiền gửi sau chỉ đạo của Thống đốc: VPBank, ABBank, Kienlongbank,...

Loạt ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất tiền gửi sau chỉ đạo của Thống đốc: VPBank, ABBank, Kienlongbank,...

Diễn biến đồng loạt giảm lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng thương mại sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước chiều 9/4 cho thấy sự đồng thuận khá rõ trong hệ thống ngân hàng đối với định hướng điều hành chính sách tiền tệ.