Thứ hai 25/05/2026 05:17
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Thách thức giảm lãi suất cho vay và nợ xấu

18/10/2021 15:05
Trong kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Tiếp tục tái cơ cấu các tổ chức tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế

Sau năm năm tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với một số kết quả nhất định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gần đây tiếp tục đề xuất kế hoạch cơ cấu nền kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, với năm nội dung trọng tâm và chín nhóm chỉ tiêu cụ thể.

Kế hoạch trên đặt ra giữa lúc nền kinh tế đang phải vật lộn với tăng trưởng suy giảm và bất ổn gia tăng do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, đe dọa sự sống còn của hệ thống doanh nghiệp, cũng như nguy cơ nợ xấu tăng vọt trong hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu cho giai đoạn tới, nhằm hướng đến việc củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

Yêu cầu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đưa ra sáu mục tiêu cụ thể đi kèm với bảy nhóm nhiệm vụ – giải pháp, trong đó bên cạnh các mục tiêu mới cũng có những mục tiêu cũ mà đề án tái cơ cấu đặt ra trước đây chưa kịp hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây chỉ tập trung vào hai mục tiêu đầu tiên mà cũng có thể xem là quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Mục tiêu giảm lãi suất cho vay: không dễ!

Mục tiêu đầu tiên tiếp tục là “giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế”. Vấn đề đặt ra ở đây: mức “chênh lệch” bao nhiêu được xem là hợp lý và có tính cạnh tranh?

Dù mặt bằng lãi suất cho vay lẫn tiền gửi đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các đợt giảm lãi suất cho vay bao giờ cũng chậm hơn và ít hơn so với mức giảm của lãi suất tiền gửi. Điều này, một phần bởi vì chênh lệch đáo hạn giữa hoạt động cho vay và huy động, khi các ngân hàng có xu hướng huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn, theo đó khoảng cách giữa các lần điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng cho vay thường dài hơn, cũng như phụ thuộc vào chính sách và động lực của chính các ngân hàng.

Hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động phổ biến nằm trong khoảng từ 2,5-5 điểm phần trăm/năm tùy theo sản phẩm và kỳ hạn, cá biệt những khoản vay tiêu dùng tín chấp chênh lệch có thể lên tới 7-8 điểm phần trăm/năm.

Do đó, có thể thấy, mục tiêu giảm chênh lệch lãi suất cho vay và huy động xuống mức “hợp lý” còn chung chung khi vẫn chưa xác định được con số định lượng cụ thể.

Ngoài ra, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung bình trong thời gian tới cũng sẽ gặp không ít thách thức.

Đầu tiên là xu hướng thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất trở lại trên toàn cầu sẽ mạnh hơn trong những năm tới và Việt Nam có lẽ cũng khó lòng nằm ngoài xu hướng chung.

Thứ hai là xu hướng giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục đi lên hiện nay càng tạo thêm áp lực lạm phát cao quay trở lại, kéo theo áp lực lên lãi suất tiền gửi của ngân hàng.

Thứ ba là với chính sách kích cầu đầu tư công để thúc đẩy kinh tế phục hồi nhanh hơn, hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh triển khai kéo theo nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, từ đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn át, tức khi Chính phủ tăng vay nợ sẽ khiến lãi suất tăng và khu vực tư nhân bị hạn chế tiếp cận vốn hoặc phải chấp nhận lãi suất cao hơn.

Cuối cùng, gánh nặng nợ xấu cũng sẽ hạn chế động lực giảm thêm lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng, khi quá khứ những năm trước đây từng chứng kiến cục máu đông nợ xấu đã khiến các ngân hàng phải tìm cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao để bù đắp những thiệt hại do các khoản nợ xấu vì cho vay dễ dãi gây ra. Lần này, với nguy cơ nợ xấu từ các khoản vay buộc phải tái cơ cấu do ảnh hưởng của dịch bệnh, mà chưa biết sẽ còn kéo dài đến đâu, bài toán nợ xấu đang quay trở lại với hệ thống ngân hàng.

Xử lý nợ xấu – tiếp tục là bài toán khó!

Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng thứ hai là “nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ”. Có thể thấy mục tiêu xử lý nợ xấu đã được đặt ra liên tiếp trong suốt 15 năm qua, từ Đề án tái cơ cấu 254 cho giai đoạn 2011-2015, đến Đề án 1058 cho giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục được nhắc lại ở đề án lần này cho giai đoạn 2021-2025, cho thấy nợ xấu luôn là căn bệnh nan y dai dẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nếu như giai đoạn trước nợ xấu phát sinh từ việc sở hữu chéo kéo theo tình trạng cho vay sân sau của các ông chủ ngân hàng, cũng như rót vốn ồ ạt vào các dự án bất động sản, doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lần này nợ xấu đến từ những nguyên nhân mang tính khách quan hơn – đó là vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Đáng lưu ý là nếu như giai đoạn 2016-2020 việc xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả khá tốt, thì chỉ cần từ năm ngoái đến nay nợ xấu lại có nguy cơ tăng vọt và xóa nhòa thành quả này.

Mới đây nhất, số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đến cuối tháng 6 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ cơ cấu lại do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% – cao hơn con số 5,08% cuối năm 2020, tương đương con số tuyệt đối là gần 705.500 tỉ đồng, dù sáu tháng đầu năm nay cũng đã xử lý được số nợ xấu nội bảng 78.860 tỉ đồng.

Rõ ràng với các khoản nợ tái cơ cấu thời gian tới không thể xử lý được và buộc phải chuyển thành nợ xấu khi thời hạn tái cơ cấu kết thúc, có thể thấy mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% là khá thách thức. Nếu nhìn vào tình hình nền kinh tế hiện nay và triển vọng không quá lạc quan trong giai đoạn tới, cũng như bài toán thiếu hụt lực lượng lao động tại các trung tâm kinh tế hậu giãn cách, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đi lên, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng, các khoản cho vay của ngân hàng cũng có thể tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trước triển vọng không mấy sáng sủa này, dễ hiểu vì sao mục tiêu từng bước phát triển thị trường nợ đi kèm theo sau mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%. Rõ ràng việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn tới không chỉ cần đến nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế mà còn cần thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Nhưng, xu hướng chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại như đã nói, sẽ hạn chế dòng vốn quốc tế tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu trong nước.

Vì lẽ đó, NHNN cũng đã sớm có đề xuất xây dựng Luật xử lý nợ xấu theo hướng tiếp tục kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42/2017/QH14, khi kết quả cho thấy việc xử lý nợ xấu theo các giải pháp đột phá của Nghị quyết 42 trong bốn năm qua đã đạt những thành tựu nhất định.

Thống kê cho thấy xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15-8-2017 đến 30-6-2021, là 359.410 tỉ đồng, trong đó thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỉ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình trong giai đoạn 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị, trong một số ít trường hợp, có khả năng sử dụng một số nguồn lực nhà nước nhất định để thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt là việc cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Cần nhắc lại rằng việc sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng đã được thảo luận trong suốt giai đoạn 2011-2015 và kế tiếp là 2016-2020, nhưng chưa bao giờ được thông qua.

Kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 theo tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở nội dung cơ cấu lại hệ thống các TCTD đặt ra sáu mục tiêu cụ thể như sau:

1. Giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế.

2. Nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ.

3. Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD; nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của các TCTD.

4. Có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tất cả ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm áp dụng Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

5. Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển mô hình ngân hàng số nhằm gia tăng trải nghiệm khách hàng trên cơ sở ứng dụng các công nghệ CMCN 4.0. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thụy Lê/thesaigontimes.vn

Tin bài khác
BIDV thu 1,365 tỷ đồng từ đợt phát hành trái phiếu công chúng

BIDV thu 1,365 tỷ đồng từ đợt phát hành trái phiếu công chúng

Đợt chào bán trái phiếu lần hai của BIDV ghi nhận kết quả tích cực với hơn 1,365 tỷ đồng thu về, phản ánh nhu cầu đầu tư ổn định dù thị trường vẫn còn nhiều biến động.
Danh mục tự doanh ngân hàng vượt 2,18 triệu tỷ đồng, ngoại hối dẫn dắt lợi nhuận

Danh mục tự doanh ngân hàng vượt 2,18 triệu tỷ đồng, ngoại hối dẫn dắt lợi nhuận

Quy mô danh mục tự doanh của 27 ngân hàng niêm yết tiếp tục mở rộng, tập trung vào chứng khoán đầu tư, trong khi mảng ngoại hối nổi lên như động lực chính tạo lợi nhuận trong quý đầu năm.
Lãi suất ngân hàng ngày 23/5/2026: Tiếp tục ổn định, chênh lệch giữa các kỳ hạn

Lãi suất ngân hàng ngày 23/5/2026: Tiếp tục ổn định, chênh lệch giữa các kỳ hạn

Lãi suất ngân hàng ngày 23/5/2026 duy trì mặt bằng ổn định, một số nhà băng điều chỉnh nhẹ ở kỳ hạn dài, tạo cơ hội cho người gửi tiền tối ưu lợi nhuận trong bối cảnh kinh tế phục hồi.
Vay vốn ngân hàng: Cấu trúc tài chính doanh nghiệp tốt, giúp giảm phụ thuộc tài sản đảm bảo

Vay vốn ngân hàng: Cấu trúc tài chính doanh nghiệp tốt, giúp giảm phụ thuộc tài sản đảm bảo

Rủi ro mất vốn của ngân hàng tham gia có thể lớn hơn vốn tham gia của doanh nghiệp. Tỷ lệ đòn bẩy cần được chia sẻ ở mức hợp lý tùy theo đặc thù ngành nghề kinh doanh cũng như và năng lực và tiềm lực của doanh nghiệp.
Ngành ngân hàng tăng tốc chuyển đổi số, đặt mục tiêu thanh toán gấp 27 lần GDP

Ngành ngân hàng tăng tốc chuyển đổi số, đặt mục tiêu thanh toán gấp 27 lần GDP

Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu đột phá năm 2026 với thanh toán không tiền mặt đạt 27 lần GDP, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, nâng cao hiệu quả dịch vụ và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Ngành ngân hàng siết chặt kỷ cương, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng năm 2026

Ngành ngân hàng siết chặt kỷ cương, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng năm 2026

Ngân hàng Nhà nước triển khai kế hoạch phòng chống tham nhũng năm 2026 với loạt giải pháp đồng bộ, tăng minh bạch, kiểm soát quyền lực, ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý toàn ngành.
Hai ngân hàng quốc doanh tung kế hoạch phát hành trái phiếu quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng năm 2026

Hai ngân hàng quốc doanh tung kế hoạch phát hành trái phiếu quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng năm 2026

Trong 5 tháng đầu năm 2026, nhiều ngân hàng đã chạy đua huy động vốn qua kênh trái phiếu. Mới đây, Vietcombank và Agribank đang có kế hoạch phát hành lần lượt 10.000 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ và 15.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng.
VPBank tăng vốn điều lệ lên 100.000 tỷ đồng, củng cố vị thế tài chính

VPBank tăng vốn điều lệ lên 100.000 tỷ đồng, củng cố vị thế tài chính

VPBank chính thức triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 100.000 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu, nhằm nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo an toàn hoạt động và gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường ngân hàng.
VietinBank Huế sau thanh tra: Áp lực siết lỗ hổng thẩm định từ cảnh báo của NHNN

VietinBank Huế sau thanh tra: Áp lực siết lỗ hổng thẩm định từ cảnh báo của NHNN

Dù ghi nhận mức tăng trưởng nguồn vốn ấn tượng 17,8%, chi nhánh ngân hàng thuộc nhóm Big 4 tại Thừa Thiên Huế vẫn phải đối mặt với yêu cầu khẩn cấp về việc xử lý dứt điểm các khoản vay tiềm ẩn rủi ro tài chính.
An Giang: Ngành ngân hàng cam kết đồng hành doanh nghiệp

An Giang: Ngành ngân hàng cam kết đồng hành doanh nghiệp

Tại tọa đàm “Ngân hàng đồng hành, chung tay phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang”, các ngân hàng, doanh nghiệp và địa phương đã cùng trao đổi giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn, thúc đẩy tín dụng xanh, chuyển đổi số và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững.
Lãi suất ngân hàng ngày 22/5/2026 tiếp tục phân hóa mạnh giữa các kỳ hạn

Lãi suất ngân hàng ngày 22/5/2026 tiếp tục phân hóa mạnh giữa các kỳ hạn

Lãi suất huy động ngày 22/5/2026 ghi nhận xu hướng phân hóa rõ nét giữa các ngân hàng, với mức cao nhất vượt mốc 6%, trong khi nhiều nhà băng vẫn duy trì chính sách lãi suất thấp để hỗ trợ tín dụng.
Lãi suất ngân hàng ngày 21/5/2026 duy trì ổn định, cạnh tranh huy động gia tăng

Lãi suất ngân hàng ngày 21/5/2026 duy trì ổn định, cạnh tranh huy động gia tăng

Lãi suất ngân hàng ngày 21/5/2026 tiếp tục ổn định ở nhiều kỳ hạn, song cạnh tranh huy động vốn có dấu hiệu gia tăng, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và trung bình.
Ngân hàng Nhà nước "cởi trói" hạ nhiệt thanh khoản, doanh nghiệp rộng cửa vay vốn

Ngân hàng Nhà nước "cởi trói" hạ nhiệt thanh khoản, doanh nghiệp rộng cửa vay vốn

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa chính thức ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN tạo bước ngoặt lớn trong cách tính toán tỷ lệ an toàn vốn. Bằng việc cho phép tính 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động, dòng vốn cho vay nền kinh tế đang được khơi thông đúng lúc, giúp các ngân hàng giảm áp lực chạy đua lãi suất tiền gửi để cân đối thanh khoản.
Tái cấu trúc vốn bất động sản trước áp lực tín dụng và thị trường vốn

Tái cấu trúc vốn bất động sản trước áp lực tín dụng và thị trường vốn

Tín dụng bất động sản vẫn tăng mạnh nhưng áp lực vốn buộc ngân hàng và doanh nghiệp tái cấu trúc, mở rộng kênh huy động nhằm đảm bảo cân bằng dòng tiền và an toàn hệ thống tài chính.
Ngân hàng mở gia tăng rủi ro an ninh mạng trong kỷ nguyên số hóa tài chính

Ngân hàng mở gia tăng rủi ro an ninh mạng trong kỷ nguyên số hóa tài chính

Chuyển sang mô hình ngân hàng mở giúp tăng trải nghiệm số nhưng kéo theo rủi ro an ninh mạng, lộ dữ liệu và phụ thuộc bên thứ ba, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản trị và pháp lý.