Thứ sáu 31/07/2026 21:10
Hotline: 024.355.63.010
Tài chính

Thách thức giảm lãi suất cho vay và nợ xấu

18/10/2021 15:05
Trong kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu.

Tiếp tục tái cơ cấu các tổ chức tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế

Sau năm năm tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với một số kết quả nhất định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gần đây tiếp tục đề xuất kế hoạch cơ cấu nền kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, với năm nội dung trọng tâm và chín nhóm chỉ tiêu cụ thể.

Kế hoạch trên đặt ra giữa lúc nền kinh tế đang phải vật lộn với tăng trưởng suy giảm và bất ổn gia tăng do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, đe dọa sự sống còn của hệ thống doanh nghiệp, cũng như nguy cơ nợ xấu tăng vọt trong hệ thống ngân hàng.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được xem là nhiệm vụ hàng đầu cho giai đoạn tới, nhằm hướng đến việc củng cố nền tảng vĩ mô, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hỗ trợ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.

Yêu cầu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đưa ra sáu mục tiêu cụ thể đi kèm với bảy nhóm nhiệm vụ – giải pháp, trong đó bên cạnh các mục tiêu mới cũng có những mục tiêu cũ mà đề án tái cơ cấu đặt ra trước đây chưa kịp hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây chỉ tập trung vào hai mục tiêu đầu tiên mà cũng có thể xem là quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Mục tiêu giảm lãi suất cho vay: không dễ!

Mục tiêu đầu tiên tiếp tục là “giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế”. Vấn đề đặt ra ở đây: mức “chênh lệch” bao nhiêu được xem là hợp lý và có tính cạnh tranh?

Dù mặt bằng lãi suất cho vay lẫn tiền gửi đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua, nhưng một thực tế không thể phủ nhận là các đợt giảm lãi suất cho vay bao giờ cũng chậm hơn và ít hơn so với mức giảm của lãi suất tiền gửi. Điều này, một phần bởi vì chênh lệch đáo hạn giữa hoạt động cho vay và huy động, khi các ngân hàng có xu hướng huy động ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn, theo đó khoảng cách giữa các lần điều chỉnh lãi suất theo hợp đồng cho vay thường dài hơn, cũng như phụ thuộc vào chính sách và động lực của chính các ngân hàng.

Hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động phổ biến nằm trong khoảng từ 2,5-5 điểm phần trăm/năm tùy theo sản phẩm và kỳ hạn, cá biệt những khoản vay tiêu dùng tín chấp chênh lệch có thể lên tới 7-8 điểm phần trăm/năm.

Do đó, có thể thấy, mục tiêu giảm chênh lệch lãi suất cho vay và huy động xuống mức “hợp lý” còn chung chung khi vẫn chưa xác định được con số định lượng cụ thể.

Ngoài ra, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung bình trong thời gian tới cũng sẽ gặp không ít thách thức.

Đầu tiên là xu hướng thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất trở lại trên toàn cầu sẽ mạnh hơn trong những năm tới và Việt Nam có lẽ cũng khó lòng nằm ngoài xu hướng chung.

Thứ hai là xu hướng giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục đi lên hiện nay càng tạo thêm áp lực lạm phát cao quay trở lại, kéo theo áp lực lên lãi suất tiền gửi của ngân hàng.

Thứ ba là với chính sách kích cầu đầu tư công để thúc đẩy kinh tế phục hồi nhanh hơn, hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh triển khai kéo theo nhu cầu huy động vốn của Chính phủ, từ đó có thể dẫn đến hiệu ứng lấn át, tức khi Chính phủ tăng vay nợ sẽ khiến lãi suất tăng và khu vực tư nhân bị hạn chế tiếp cận vốn hoặc phải chấp nhận lãi suất cao hơn.

Cuối cùng, gánh nặng nợ xấu cũng sẽ hạn chế động lực giảm thêm lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng, khi quá khứ những năm trước đây từng chứng kiến cục máu đông nợ xấu đã khiến các ngân hàng phải tìm cách duy trì mặt bằng lãi suất cho vay cao để bù đắp những thiệt hại do các khoản nợ xấu vì cho vay dễ dãi gây ra. Lần này, với nguy cơ nợ xấu từ các khoản vay buộc phải tái cơ cấu do ảnh hưởng của dịch bệnh, mà chưa biết sẽ còn kéo dài đến đâu, bài toán nợ xấu đang quay trở lại với hệ thống ngân hàng.

Xử lý nợ xấu – tiếp tục là bài toán khó!

Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng thứ hai là “nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ”. Có thể thấy mục tiêu xử lý nợ xấu đã được đặt ra liên tiếp trong suốt 15 năm qua, từ Đề án tái cơ cấu 254 cho giai đoạn 2011-2015, đến Đề án 1058 cho giai đoạn 2016-2020 và tiếp tục được nhắc lại ở đề án lần này cho giai đoạn 2021-2025, cho thấy nợ xấu luôn là căn bệnh nan y dai dẳng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nếu như giai đoạn trước nợ xấu phát sinh từ việc sở hữu chéo kéo theo tình trạng cho vay sân sau của các ông chủ ngân hàng, cũng như rót vốn ồ ạt vào các dự án bất động sản, doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, lần này nợ xấu đến từ những nguyên nhân mang tính khách quan hơn – đó là vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Đáng lưu ý là nếu như giai đoạn 2016-2020 việc xử lý nợ xấu đã đạt được kết quả khá tốt, thì chỉ cần từ năm ngoái đến nay nợ xấu lại có nguy cơ tăng vọt và xóa nhòa thành quả này.

Mới đây nhất, số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đến cuối tháng 6 vừa qua, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu là 3,66%. Nếu tính cả các khoản nợ cơ cấu lại do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì tỷ lệ này là 7,21% – cao hơn con số 5,08% cuối năm 2020, tương đương con số tuyệt đối là gần 705.500 tỉ đồng, dù sáu tháng đầu năm nay cũng đã xử lý được số nợ xấu nội bảng 78.860 tỉ đồng.

Rõ ràng với các khoản nợ tái cơ cấu thời gian tới không thể xử lý được và buộc phải chuyển thành nợ xấu khi thời hạn tái cơ cấu kết thúc, có thể thấy mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% là khá thách thức. Nếu nhìn vào tình hình nền kinh tế hiện nay và triển vọng không quá lạc quan trong giai đoạn tới, cũng như bài toán thiếu hụt lực lượng lao động tại các trung tâm kinh tế hậu giãn cách, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đi lên, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng, các khoản cho vay của ngân hàng cũng có thể tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực.

Trước triển vọng không mấy sáng sủa này, dễ hiểu vì sao mục tiêu từng bước phát triển thị trường nợ đi kèm theo sau mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3%. Rõ ràng việc xử lý nợ xấu trong giai đoạn tới không chỉ cần đến nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế mà còn cần thu hút được dòng vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Nhưng, xu hướng chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt trở lại như đã nói, sẽ hạn chế dòng vốn quốc tế tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu trong nước.

Vì lẽ đó, NHNN cũng đã sớm có đề xuất xây dựng Luật xử lý nợ xấu theo hướng tiếp tục kế thừa các quy định về xử lý nợ xấu tại Nghị quyết 42/2017/QH14, khi kết quả cho thấy việc xử lý nợ xấu theo các giải pháp đột phá của Nghị quyết 42 trong bốn năm qua đã đạt những thành tựu nhất định.

Thống kê cho thấy xử lý nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42, lũy kế từ 15-8-2017 đến 30-6-2021, là 359.410 tỉ đồng, trong đó thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 138.340 tỉ đồng (chiếm 38,5% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu đã xử lý trung bình trong giai đoạn 2012-2017 là khoảng 22,8%.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị, trong một số ít trường hợp, có khả năng sử dụng một số nguồn lực nhà nước nhất định để thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đặc biệt là việc cơ cấu lại các TCTD và xử lý nợ xấu. Cần nhắc lại rằng việc sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu ngân hàng đã được thảo luận trong suốt giai đoạn 2011-2015 và kế tiếp là 2016-2020, nhưng chưa bao giờ được thông qua.

Kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 theo tờ trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở nội dung cơ cấu lại hệ thống các TCTD đặt ra sáu mục tiêu cụ thể như sau:

1. Giảm lãi suất cho vay trung bình xuống mức chênh lệch hợp lý so với mức lãi suất huy động và có tính cạnh tranh so với mức lãi suất cho vay trung bình tại các nước trong khu vực, phù hợp với thay đổi về cấu trúc kinh tế.

2. Nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các TCTD duy trì ở mức dưới 3%, từng bước phát triển thị trường mua bán nợ.

3. Tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD; nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh của các TCTD.

4. Có ít nhất từ 2-3 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) trong khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tất cả ngân hàng thương mại áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, triển khai thí điểm áp dụng Basel II theo phương pháp nâng cao tại ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ phần chi phối và ngân hàng thương mại cổ phần có chất lượng quản trị tốt đã hoàn thành áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn.

5. Thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển mô hình ngân hàng số nhằm gia tăng trải nghiệm khách hàng trên cơ sở ứng dụng các công nghệ CMCN 4.0. Đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

6. Đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho thúc đẩy ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Thụy Lê/thesaigontimes.vn

Tin bài khác
Mở rộng thị trường vốn giảm áp lực ngân hàng, tạo động lực tăng trưởng bền vững dài hạn

Mở rộng thị trường vốn giảm áp lực ngân hàng, tạo động lực tăng trưởng bền vững dài hạn

Nhu cầu vốn tăng mạnh giai đoạn 2026-2030 buộc Việt Nam tái cấu trúc hệ dẫn vốn, phát triển thị trường vốn nhằm giảm phụ thuộc ngân hàng, đảm bảo cân đối nguồn lực và ổn định tài chính dài hạn.
Gia đình Chủ tịch Dương Nhất Nguyên nắm hơn 13% vốn tại Ngân hàng Vietbank

Gia đình Chủ tịch Dương Nhất Nguyên nắm hơn 13% vốn tại Ngân hàng Vietbank

Dù gia đình Chủ tịch HĐQT Dương Nhất Nguyên sở hữu tổng cộng hơn 13% vốn của Vietbank, nhưng không cá nhân nào trong nhóm là cổ đông lớn đứng tên từ 5% trở lên.
HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Lãi suất ngân hàng ngày 31/7/2026: Biến động nhẹ, nhiều kỳ hạn tiếp tục ổn định

Lãi suất ngân hàng ngày 31/7/2026: Biến động nhẹ, nhiều kỳ hạn tiếp tục ổn định

Lãi suất ngân hàng ngày 31/7/2026 ghi nhận xu hướng ổn định tại nhiều nhà băng, một số kỳ hạn điều chỉnh nhẹ, tạo cơ hội lựa chọn linh hoạt cho người gửi tiền cá nhân và doanh nghiệp.
PVcomBank sắp lên UPCoM: Tổng tài sản vượt nhiều ngân hàng, liên tục nhận cảnh báo từ NHNN liên quan đến tăng trưởng tín dụng

PVcomBank sắp lên UPCoM: Tổng tài sản vượt nhiều ngân hàng, liên tục nhận cảnh báo từ NHNN liên quan đến tăng trưởng tín dụng

Năm 2025, PVcomBank đã nhận được nhiều cảnh báo, yêu cầu từ Ngân hàng Nhà nước liên quan đến tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng cho một số khách hàng,...
Lãi suất chịu áp lực khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn toàn hệ thống

Lãi suất chịu áp lực khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn toàn hệ thống

Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn tiếp tục nới rộng, khiến áp lực lãi suất gia tăng. Dù thanh khoản ngắn hạn cải thiện, chi phí vốn và mất cân đối kỳ hạn vẫn là thách thức lớn.
Lãi suất ngân hàng ngày 30/7/2026: Nhiều nơi điều chỉnh, gửi tiết kiệm ra sao?

Lãi suất ngân hàng ngày 30/7/2026: Nhiều nơi điều chỉnh, gửi tiết kiệm ra sao?

Lãi suất ngân hàng ngày 30/7/2026 ghi nhận biến động nhẹ ở nhiều kỳ hạn. Một số ngân hàng tăng ưu đãi tiền gửi, trong khi mặt bằng chung vẫn duy trì ổn định, tạo cơ hội cho người gửi tiền.
Ngân hàng đã bơm gần 1,5 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế, dư nợ vượt 20 triệu tỷ

Ngân hàng đã bơm gần 1,5 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế, dư nợ vượt 20 triệu tỷ

Tín dụng đang tăng tốc cùng đà phục hồi của nền kinh tế. Đến giữa tháng 7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm trước, tương đương gần 1,5 triệu tỷ đồng vốn mới được đưa vào nền kinh tế. Cùng với tăng trưởng tín dụng, nhiều ngân hàng cũng ghi nhận lợi nhuận cao và được kỳ vọng tiếp tục đóng góp lớn cho ngân sách hà nước trong năm nay.
BVBank hoàn thành gần 80% kế hoạch lợi nhuận sau quý 2/2026

BVBank hoàn thành gần 80% kế hoạch lợi nhuận sau quý 2/2026

BVBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế hơn 547 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng gần 5 lần cùng kỳ.
Lãi suất ngân hàng ngày 29/7/2026 duy trì ổn định, giữ mức cạnh tranh

Lãi suất ngân hàng ngày 29/7/2026 duy trì ổn định, giữ mức cạnh tranh

Lãi suất ngân hàng ngày 29/7/2026 tiếp tục ổn định, trong đó nhiều nhà băng duy trì mức cạnh tranh ở kỳ hạn dài, phản ánh xu hướng giữ mặt bằng lãi suất hỗ trợ thanh khoản và tăng trưởng tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ngăn chặn thủ đoạn bóc, tráo chip thẻ để chiếm đoạt tiền

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ngăn chặn thủ đoạn bóc, tráo chip thẻ để chiếm đoạt tiền

Trước tình trạng tội phạm công nghệ cao lợi dụng sơ hở để bóc, tráo chip thẻ ngân hàng rồi thực hiện giao dịch trái phép, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật, đồng thời tăng cường cảnh báo để khách hàng chủ động bảo vệ tài sản.
Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Giải bài toán vốn ngàn tỷ cho cuộc đua chuyển đổi xanh

Áp lực giảm phát thải và đáp ứng hàng rào kỹ thuật quốc tế đang đẩy hàng ngàn doanh nghiệp vào cuộc đua đổi mới công nghệ. Dù nhu cầu vốn xanh cho mục tiêu Net Zero lên tới 368 tỷ USD, nhưng rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt nguồn cung tiền, mà ở năng lực chứng minh hiệu quả kinh tế của chính doanh nghiệp.
Lãi suất ngân hàng ngày 28/7/2026: Cuộc đua tăng nhẹ, kỳ hạn dài hút tiền gửi

Lãi suất ngân hàng ngày 28/7/2026: Cuộc đua tăng nhẹ, kỳ hạn dài hút tiền gửi

Lãi suất ngân hàng ngày 28/7/2026 ghi nhận xu hướng nhích tăng ở nhiều ngân hàng, đặc biệt kỳ hạn dài. Cuộc cạnh tranh huy động vốn trở nên rõ nét khi thanh khoản hệ thống có dấu hiệu phân hóa.
Ngân hàng Nhà nước tăng tốc huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Ngân hàng Nhà nước tăng tốc huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Nguồn vốn huy động từ người dân tiếp tục chảy mạnh vào hệ thống ngân hàng, trong khi Ngân hàng Nhà nước đồng thời đẩy nhanh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và khai thác dữ liệu số. Hai động lực này được kỳ vọng sẽ tăng năng lực cung ứng vốn, giảm chi phí giao dịch và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Ngân hàng VIB báo lãi 5.180 tỷ, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng

Ngân hàng VIB báo lãi 5.180 tỷ, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng

Kết thúc nửa đầu năm 2026, ngân hàng VIB ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng ổn định, tài sản vượt 580 nghìn tỷ đồng, đồng thời duy trì các chỉ số an toàn cao trong bối cảnh thị trường tài chính nhiều biến động.