![]() |
| Mỏ khai thác đất làm vật liệu san lấp của Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Gramping Phú Thọ, xã Thanh Sơn. |
Nhu cầu vật liệu tăng, doanh nghiệp chịu áp lực
Tại chương trình Cà phê doanh nhân lần thứ 4, tổ chức ngày 5/6/2026, Hội Doanh nhân tỉnh Phú Thọ đã tổng hợp các kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, hạ tầng. Một trong những vấn đề được quan tâm là giá cát, đá, đất đắp và nhiên liệu liên tục tăng, tạo thêm áp lực đối với nhà thầu.
Đặc biệt, tại nhiều dự án, hình thức hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá cố định vẫn được áp dụng. Khi giá vật liệu đầu vào tăng so với thời điểm dự thầu, doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro chi phí, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện hợp đồng và tiến độ công trình.
Trong bối cảnh đó, nhu cầu cân đối nguồn vật liệu càng trở nên rõ nét khi Phú Thọ đang triển khai nhiều dự án đầu tư công quy mô lớn. Tại cuộc họp ngày 23/9/2026, Sở Xây dựng cho biết đối với đất đắp, trên địa bàn tỉnh hiện có 5 giấy phép khai thác mỏ thương mại với tổng trữ lượng 4,33 triệu m³; cùng với đó là 34 giấy phép khai thác phục vụ các công trình, dự án cụ thể với tổng trữ lượng khoảng 24 triệu m³.
![]() |
| Điểm khai thác tại khu vực xã Thanh Sơn với khối lượng 1.751.230 m³, công suất 1 triệu m³/năm. |
Tuy nhiên, các nguồn vật liệu này được cấp theo những mục đích và phạm vi khác nhau, do đó không phải toàn bộ đều có thể sử dụng linh hoạt cho các dự án trên địa bàn. Thông báo số 645/TB-UBND ngày 25/9/2026 của UBND tỉnh Phú Thọ cũng thẳng thắn chỉ ra thực tế một số loại vật liệu, trong đó có đất đắp, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các dự án; giá vật liệu tăng đã tác động đến tiến độ thi công, giải ngân vốn đầu tư công và mục tiêu tăng trưởng của tỉnh.
Đáng chú ý, thông báo của UBND tỉnh không chỉ đề cập bài toán trữ lượng hay công suất khai thác, mà còn chỉ ra một trong những điểm nghẽn là thời gian thực hiện các thủ tục cấp phép mỏ mới, mở rộng hoặc nâng công suất khai thác còn kéo dài.
Trước yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông chỉ đạo nghiên cứu, triển khai “luồng xanh” trong giải quyết thủ tục cấp phép các mỏ phục vụ dự án đầu tư công. Đây được xem là giải pháp nhằm rút ngắn thời gian xử lý thủ tục trong khuôn khổ quy định, qua đó chủ động hơn về nguồn vật liệu cho các công trình có nhu cầu lớn.
![]() |
| Mỏ khai thác đất làm vật liệu san lấp của Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Gramping Phú Thọ, xã Thọ Văn. |
Cùng với việc tháo gỡ thủ tục, tỉnh yêu cầu các chủ đầu tư, ban quản lý dự án rà soát nhu cầu vật liệu, cân đối khối lượng đào - đắp, chủ động đề xuất các mỏ mới hoặc mở rộng công suất những mỏ đang khai thác. Về dài hạn, nhu cầu vật liệu đến năm 2030 cũng được yêu cầu rà soát để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cấp phép và điều chỉnh công suất khai thác.
Đơn cử hai mỏ hơn 2 triệu m³ đất được cấp cho dự án tại Hưng Yên
Trong bối cảnh Phú Thọ đang đặt yêu cầu cân đối nguồn đất đắp, đơn cử hai giấy phép khai thác khoáng sản được UBND tỉnh cấp cho Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Gramping Phú Thọ trong năm 2026, cho thấy hơn 2 triệu m³ đất san lấp được xác định phục vụ một dự án tại Hưng Yên.
Cụ thể, Giấy phép số 266/GP-UBND ngày 30/6/2026 cho phép khai thác đất làm vật liệu san lấp tại khu vực xã Thọ Văn với khối lượng được phép khai thác 292.032 m³, công suất 200.000 m³/năm. Giấy phép số 274/GP-UBND ngày 6/7/2026 cho phép khai thác tại khu vực xã Thanh Sơn với khối lượng 1.751.230 m³, công suất 1 triệu m³/năm.
![]() |
| Điểm khai thác đất làm vật liệu san lấp tại khu vực xã Thọ Văn với khối lượng được phép khai thác 292.032 m³, công suất 200.000 m³/năm. |
Tổng khối lượng được cấp phép theo hai giấy phép là 2.043.262 m³, tương đương hơn 2 triệu m³ đất đắp. Cả hai giấy phép đều xác định vật liệu khai thác được sử dụng cho dự án “Xây dựng tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng” theo Quyết định số 378/QĐ-UBND ngày 17/2/2025 của UBND tỉnh Hưng Yên.
Quy mô hơn 2 triệu m³ từ hai mỏ là con số đáng chú ý nếu đặt cạnh tổng trữ lượng 4,33 triệu m³ của 5 giấy phép khai thác thương mại đất đắp được Sở Xây dựng báo cáo tại cuộc họp ngày 23/9. Tuy nhiên, đây chỉ là hai trường hợp cụ thể được cấp phép cho một dự án tại địa phương khác, chưa phản ánh toàn bộ lượng đất đắp được khai thác tại Phú Thọ để cung cấp ra ngoài tỉnh.
Từ thực tế này, bài toán đặt ra không chỉ là tăng trữ lượng mà còn phải tổ chức, phân bổ nguồn vật liệu phù hợp với nhu cầu và tiến độ từng nhóm dự án. Việc cấp phép cần được thực hiện theo hướng vừa bảo đảm đúng quy định, vừa tạo điều kiện để nguồn tài nguyên được đưa vào sử dụng hiệu quả, hạn chế phát sinh chi phí trung gian và vận chuyển không cần thiết.
![]() |
| Các phương tiện vận chuyển đất ra vào qua điểm đấu nối với quốc lộ 32, xã Thọ Văn. |
UBND tỉnh Phú Thọ cũng yêu cầu ưu tiên nguồn vật liệu cho các dự án đầu tư công, nhất là các công trình trọng điểm, dự án lớn và dự án do Trung ương quản lý. Cùng với đó, tỉnh giao các cơ quan chuyên môn rà soát nhu cầu đến năm 2030, xây dựng kế hoạch cấp phép mỏ mới, mở rộng và nâng công suất; đồng thời nghiên cứu định mức kinh tế - kỹ thuật về chi phí khai thác và tiếp tục hoàn thiện việc công bố giá vật liệu xây dựng sát với diễn biến thị trường.
Việc kết hợp giữa tháo gỡ thủ tục cấp phép theo cơ chế “luồng xanh”, chủ động quy hoạch nguồn cung và phân bổ vật liệu theo nhu cầu thực tế được kỳ vọng sẽ giúp Phú Thọ từng bước giảm áp lực về đất đắp, ổn định chi phí đầu vào và hỗ trợ tiến độ các dự án đầu tư công trong thời gian tới.