
IMF đã dự báo lạm phát toàn cầu năm 2021 lên 8,8% trong năm 2022, kỳ vọng giảm về mức 6,5% vào năm 2023 và về mức 4,1% vào năm 2024. Bài viết dưới đây tổng hợp một số nguyên nhân chủ yếu làm lạm phát tăng cao trên toàn thế giới và một số giải pháp ứng phó của “đại gia” Đài Loan.
Quan sát thấy có các nguyên nhân chủ yếu dưới đây làm lạm phát tăng:
Nhu cầu cung cấp hàng hóa trên thế giới tăng: Ngày 6/7/2018, chính quyền Mỹ chính thức khởi động cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Trong 03 năm qua, những chế tài trong việc đánh thuế hàng xuất khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ và ngược lại đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa từ hai bên vốn chiếm tỷ trọng cao trong cán cân thương mại toàn cầu. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này, mà còn ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu giảm mạnh, giá hàng hóa dịch vụ gia tăng, lạm phát xảy ra.
Khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ giảm: Ảnh hưởng lây lan của đại dịch Covid 19 từ đầu năm 2020 đến nay gây ra sự hỗn loạn kinh tế trên toàn thế giới, làm đứt gãy chuỗi sản xuất hàng hóa và chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu. Các biện pháp hạn chế di chuyển con người và hàng hóa áp dụng trong thời gian dài, đặc biệt chỉ mới đây vào cuối tháng 12/2022 Trung Quốc mới dỡ bỏ các biện pháp cách ly xã hội, kiểm dịch Covid 19 đối với người và hàng hóa nhập cảnh Trung Quốc. Container vận chuyển hàng hóa thiếu hụt nghiêm trọng. Các hãng hàng không ngừng hoạt động. Thị trường bán dẫn thiếu hụt chip. Sự mất cân đối nặng nề giữa cung và cầu, khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ giảm, làm cho chi phí nguyên liệu nguyên vật liệu tăng, lạm phát tăng.
Giá cả bắt đầu tăng trở lại do ngành dịch vụ thiếu nguồn cung: Trong thời kỳ dịch bệnh, người tiêu dùng mua nhiều sản phẩm điện tử hơn để đáp ứng nhu cầu làm việc từ xa. Tâm lý mua sắm, tiêu dùng “xả hơi”, trả thù” sau dịch bệnh đã khiến cho nhu cầu đối với nhiều mặt hàng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tăng nhanh, đặc biệt là giá dịch vụ logistics tăng cao trong suốt thời gian dịch bệnh Covid, gây áp lực lạm phát tăng.
Giá năng lượng tăng cao: Năm 2022, giá dầu, khí đốt tự nhiên và than đá tăng cao, khó dự đoán, ảnh hưởng trực tiếp từ “chiến dịch đặc biệt” do tổng thống Nga Putin phát động nhằm vào Ucraina, kéo theo hàng loạt biện pháp cấm vận của Mỹ và EU nhằm vào Nga, khi Nga và Ucraina đều là những nước cung ứng khí đốt và dầu khí lớn trên thế giới. Đẩy giá nguyên liệu và năng lượng lên cao, lạm phát tăng.
Lạm phát tăng cao làm tăng lãi suất tín dụng: Trừ Trung Quốc và Nhật Bản, hầu hết các ngân hàng trung ương đều áp dụng chính sách tăng lãi suất, hoặc siết chặt room tín dụng, ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng và bài toán tài chính trong hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. “Đại gia” Đài Loan cũng không nằm ngoại lệ. Lạm phát cao đã trở thành mối đe dọa lớn đối với triển vọng kinh tế toàn cầu. Với làn sóng tăng lãi suất và lạm phát này, Đài Loan đã tăng lãi suất lần đầu tiên sau mười năm.
“Đại gia” Đài Loan ứng phó như thế nào với lạm phát toàn cầu tăng cao?
Tổ chức lại chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng: Có thể thấy rõ, là lợi ích của việc chuyển giao đơn hàng từ cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ, từ Trung Quốc ra bên ngoài Trung Quốc, lấp đầy đơn hàng cho các doanh nghiệp Đài Loan sản xuất đầu tư vào năng lực sản xuất bên ngoài Trung Quốc trong những năm gần đây (bao gồm chất bán dẫn, máy móc chính xác, xe đạp và thiết bị y tế, v.v.). Do đó, các “đại gia” Đài Loan trong những ngành này đã nhanh chóng tổ chức lại kế hoạch tiếp nhận đơn hàng, tổ chức sản xuất linh hoạt hơn, hiệu quả hơn, tốc độ nhanh hơn, nhằm thực hiện đúng về thời hạn sản xuất và thời hạn giao hàng theo yêu cầu của bên đặt đơn hàng.
Minh bạch và tăng cường trao đổi thông tin chuỗi sản xuất, cung ứng: Trong năm 2022 vừa qua, do các nhà máy lớn dự trữ bao bì carton, nguyên liệu cơ bản cho việc xuất khẩu hàng hóa như bao bì đóng gói, keo dán...bị thiếu hụt nghiệm trọng. Việc hạn chế tiếp nhận lao động nhập cư do phòng chống dịch bệnh càng khiến tình trạng thiếu lao động tại chỗ vốn đã thiếu càng thêm trầm trọng. Nhiều công ty phải lên lịch giao đơn hàng đến cuối năm 2022, chuẩn bị cho các đơn hàng năm 2023. Việc minh bạch và tăng cường trao đổi thông tin chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng của các “đại gia” Đài Loan đã khắc phục được hiện tượng tắc ngẽn thông tin cung cầu trong ngành công nghiệp của họ trên toàn cầu.
Thay đổi chính sách tồn kho ứng phó với tác động của dịch bệnh: Ngành sản xuất của Đài Loan bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cách quản lý của Nhật Bản, đặc biệt là phương thức Toyota Way hay quản lý tinh gọn Lean, họ nhấn mạnh hàng tồn kho dư thừa là sai lầm nghiêm trọng. Họ áp dụng minh bạch hệ sinh thái chuỗi cung ứng, để hàng tồn kho tại kho của nhà sản xuất, xây dựng cơ chế cung ứng hàng hóa mạnh, nhanh, tin tưởng lẫn nhau, đặc biệt là đối với ngành chế tạo ô tô, là hình mẫu để nhiều ngành sản xuất học hỏi. Tuy nhiên, việc cách ly xã hội và tạm ngừng hoạt động sản xuất do COVID-19 gây ra đã ảnh hưởng nhiều nhất đến chuỗi cung ứng của ngành sản xuất linh kiện ô tô của Đài Loan trong thời gian đầu. Lượng hàng tồn kho tại nơi sản xuất xe lắp ráp bằng 0 làm tạm ngưng sản xuất do phải chờ cung cấp bổ sung nguyên liệu và vốn sản xuất thiếu hụt. Do ảnh hưởng tiếp tục của dịch bệnh, hầu hết các nhà sản xuất linh kiện ô tô của Đài Loan đã thay đổi chính sách tồn kho chuỗi cung ứng ban đầu của họ. Thứ nhất, tăng thêm nhà cung ứng nguyên liệu thứ cấp đủ điều kiện ngoài nhà cung cấp cấp 1 truyền thống để mua nguyên liệu dự trữ và thông tin chất lượng hàng hóa, mở rộng nguồn cung ứng nguyên vật liệu thô. Thứ hai, phân tán địa điểm sản xuất của chuỗi cung ứng, nâng cao công năng và năng lực điều phối và phân bổ mua sắm toàn cầu. Thứ ba, ứng dụng công nghệ kết nối thông tin quản lý hoàn chỉnh liên quan đến sản xuất, thu mua, nguyên vật liệu thay thế, để thông tin cung ứng nguyên vật liệu chính xác, kịp thời và minh bạch.

Tăng cường tính linh hoạt của chuỗi cung ứng, tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp: Nhiều nhà sản xuất Đài Loan chọn mở rộng cơ sở sản xuất ở nước ngoài hoặc hệ sinh thái chuỗi cung ứng. Họ phải cân nhắc rất nhiều điều kiện, bao gồm giá thành tiếp cận thị trường đất đai tại nước bản địa, giá thành lương và bảo hiểm bắt buộc cho người lao động, ưu đãi thuế, chi phí vận chuyển và phân phối hàng hóa, quy định, quy phạm, tiêu chuẩn về môi trường, phòng cháy chữa cháy, đánh giá về tác động văn hóa. Do đó, doanh nghiệp Đài Loan khi đánh giá về địa điểm sản xuất hoặc cơ sở nghiên cứu phát triển tại nước ngoài, hoặc chỉ là phương thức bán hàng ở nước ngoài, hệ thống bán hàng, phương thức bán hàng trực tuyến hoặc trực tiếp, logistic, giao nhận hàng..., đều đã tính toán kỹ lưỡng về thuế quan, biến động tý giá hối đoái, dịch chuyển đơn hàng, thuế thu nhập doanh nghiệp, lương và bảo hiểm bắt buộc cho người lao động, các loại giá thành có thể phát sinh khác, từ đó quản trị tốt về giá thành tổng thể, làm tăng sức mạnh của chuỗi cung ứng, tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp. Trong đó, việc thiết kế tổ chức và nhân lực của chuỗi cung ứng, quy trình mua sắm và phân phối, quy hoạch về thuế, họ thường từ góc độ vĩ mô để đánh giá tổng thể tổ chức của doanh nghiệp (hoặc tập đoàn), với phương pháp tối ưu quản lý chuỗi giá trị ngành nghề kinh doanh (Value Chain Management, VCM), đánh giá tính hợp lý và tính cần thiết trong việc thiết lập trung tâm dịch vụ chia sẻ của doanh nghiệp (Shared Service Center, SSC), hoặc hội sở điều hành chính, hoặc trụ sở chính (Headquarter, HQ), hỗ trợ tối ưu hóa chuỗi cung ứng doanh nghiệp. Do đó, khi đánh giá các cơ sở sản xuất hoặc cơ sở R&D ở nước ngoài, hoặc mô hình bán hàng kinh doanh ở nước ngoài, hệ thống phân phối, mô hình bán hàng trực tuyến và trực tiếp, phân phối hậu cần, kho giao hàng, v.v., họ phải xem xét đầy đủ về thuế quan, biến động tỷ giá hối đoái, chuyển giá, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, lương và bảo hiểm cho người lao động, các chi phí bổ sung khác nhau, để tính toán chi phí tổng thể tốt nhất, làm tăng cường tính linh hoạt của chuỗi cung ứng, tăng cường khả năng thích ứng phục hồi của doanh nghiệp sau đại dịch và trong thời kỳ lạm phát tăng cao.
Chú trọng bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu và giảm thiểu carbon: Ngày càng có nhiều “đại gia” nổi tiếng - các doanh nghiệp đa quốc gia của Đài Loan yêu cầu sản phẩm do các nhà cung cấp cung ứng phải phù hợp với yêu cầu giảm thiểu carbon, thực hiện việc kiểm tra đánh giá môi trường làm việc, truy xuất chính sách phúc lợi và nguồn gốc nguyên liệu thô, thậm chí kiểm tra đánh giá về quy trình nghiệp vụ, đạo đức, văn hóa và tính nhân văn của hoạt động và con người thực hiện hoạt động mua sắm, cung ứng của doanh nghiệp. Tăng cường thiết lập và kiểm tra giám sát việc tuân thủ văn hóa liêm chính doanh nghiệp. Yêu cầu lạc hậu về "hiệu suất chi phí" phải chuyển dần sang “bảo vệ môi trường xanh và quản lý bền vững”, quan tâm đến hành trình trải nghiệm của khách hàng, ứng dụng công nghệ thông tin để phân tích dữ liệu số, đồng thời gắn kết các KPI chính của quản lý với hệ thống khen thưởng hiệu quả cho người lao động, đây cũng là một yếu tố rất quan trọng trong chuỗi cung ứng của “đại gia” Đài Loan.
Giải pháp của Công ty TNHH Sản xuất Chất bán dẫn Đài Loan (TSMC)
Hiện nay, trong ngành sản xuất chip (foundry), TSMC chiếm 54% thị phần thế giới trị giá khoảng 600 tỷ năm 2022, dự báo sẽ tăng lên 1400 tỷ USD vào năm 2029. Sản phẩm của TSMC thuộc loại cao cấp nhất. Nhưng TSMC chỉ là một khâu trong cả chuỗi cung ứng từ công nghệ đến vật liệu vv… TSMC phải cần máy quang khắc của ASML Hòa Lan, ASML, cần hệ thống quang học của Zeiss, Đức...Tất cả các công nghệ liên quan đều do Mỹ và các nước đồng minh nắm giữ.

Vì vậy, để tổ chức lại chuỗi sản xuất và cung ứng chip, mới đây, vào ngày 06/12/2022, TSMC đã tổ chức lễ nhập máy sản xuất chip vào nhà máy thứ 2 tại thành phố Phoenix, bang Arizona. Tổng mức đầu tư là 40 tỷ USD, lập kỷ lục cao nhất về tổng số vốn đầu tư cho một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Mỹ và tại Arizona. Nhà máy sẽ sản xuất con chip 4 nanomet. Nhà máy thứ 2 sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2026 và sản xuất chip 3nm, loại chip tiên tiến nhất hiện có. Đủ chip để đáp ứng nhu cầu của Mỹ với 600.000 tấm wafer mỗi năm. Tạo ra 10.000 việc làm tại nhà máy và 10.000 việc làm xây dựng khác.
Mặc dù dự báo là chi phí lao động tại nhà máy này cao hơn khoảng 50% so với nhà máy của TSMC tại Đài Loan và Trung Quốc, nhưng đổi lại, TMSC có thể được lợi từ khoản tài trợ vốn 280 tỷ USD nhằm thúc đẩy công nghệ cao tại Mỹ, theo Đạo luật Khoa học & CHIPS, bao gồm 52,7 tỉ USD cho các khoản vay, trợ cấp cùng các ưu đãi khác, cũng như hàng tỷ USD tín dụng thuế nhằm khuyến khích đầu tư vào sản xuất bán dẫn ở Mỹ.
TSMC sẽ ổn định chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng chip của họ, phù hợp với chính sách thu hút đầu tư công nghiệp bán dẫn của Mỹ, tránh được rủi ro về giấy phép khi bán sản phẩm bán dẫn hoặc thiết bị sản xuất liên quan cho nhà máy của họ tại Trung Quốc, tránh các rủi ro về địa chính trị, rủi ro tài sản khi duy trì nhà máy tại Đài Loan và Trung Quốc.
Bùi Văn Thành