| Lãi suất ngân hàng ngày 15/7/2026: PVcomBank giữ ngôi vương, nhóm Big 4 đứng yên Lãi suất ngân hàng ngày 16/7/2026: Nhóm Big4 ổn định, tư nhân tăng nhẹ |
Lãi suất ngân hàng ngày 17/7/2026 tại các ngân hàng thương mại tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, với một số điều chỉnh nhẹ ở các kỳ hạn trung và dài hạn. Khảo sát tại nhiều ngân hàng cho thấy mức lãi suất phổ biến vẫn dao động trong khoảng từ 3,5% đến 6,5%/năm, tùy theo kỳ hạn và chính sách riêng của từng đơn vị.
| Lãi suất ngân hàng ngày 17/7/2026 ghi nhận biến động nhẹ ở một số kỳ hạn. |
Tại nhóm ngân hàng quốc doanh, lãi suất tiếp tục giữ ở mức thấp. Cụ thể, Vietcombank áp dụng mức 3,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 4,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 5,5%/năm cho kỳ hạn 24 tháng. BIDV niêm yết lần lượt 3,7%/năm (6 tháng), 4,8%/năm (12 tháng) và 5,6%/năm (24 tháng). Agribank duy trì mức 3,8%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 4,9%/năm cho 12 tháng và 5,7%/năm cho 24 tháng. Trong khi đó, VietinBank áp dụng mức tương đương với 3,7%/năm (6 tháng), 4,8%/năm (12 tháng) và 5,6%/năm (24 tháng).
Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, mặt bằng lãi suất có phần cao hơn. Techcombank niêm yết 4,2%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 5,3%/năm cho 12 tháng và 6,2%/năm cho 24 tháng. ACB áp dụng mức 4,1%/năm (6 tháng), 5,2%/năm (12 tháng) và 6,1%/năm (24 tháng). Sacombank ghi nhận mức 4,3%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 5,4%/năm cho 12 tháng và 6,3%/năm cho 24 tháng.
Tại VPBank, lãi suất 6 tháng ở mức 4,5%/năm, kỳ hạn 12 tháng là 5,6%/năm và 24 tháng đạt 6,4%/năm. MB (Quân đội) niêm yết 4,4%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 5,5%/năm cho 12 tháng và 6,3%/năm cho 24 tháng. SHB áp dụng mức 4,5%/năm (6 tháng), 5,6%/năm (12 tháng) và 6,4%/năm (24 tháng).
Một số ngân hàng quy mô nhỏ tiếp tục duy trì mức lãi suất cạnh tranh hơn nhằm thu hút dòng tiền gửi. Cụ thể, HDBank niêm yết 4,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 5,7%/năm cho 12 tháng và 6,5%/năm cho 24 tháng. Nam A Bank áp dụng mức 4,7%/năm (6 tháng), 5,8%/năm (12 tháng) và 6,6%/năm (24 tháng). Bac A Bank cũng ghi nhận mức 4,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 5,7%/năm cho 12 tháng và 6,5%/năm cho 24 tháng.
Nhìn chung, lãi suất cao nhất hiện vẫn tập trung ở nhóm ngân hàng tư nhân nhỏ với mức trên 6,5%/năm cho kỳ hạn dài từ 18 đến 24 tháng. Trong khi đó, các ngân hàng lớn tiếp tục giữ vai trò ổn định thị trường với mặt bằng thấp hơn nhưng ít biến động.
Đối với các kỳ hạn ngắn từ 1 đến 3 tháng, lãi suất phổ biến dao động quanh mức 2,5% đến 3,2%/năm. Kỳ hạn từ 6 đến 9 tháng ghi nhận mức từ 3,5% đến 4,7%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng trở lên là nhóm có sự cạnh tranh rõ rệt nhất giữa các ngân hàng.
Xu hướng hiện tại cho thấy các ngân hàng vẫn thận trọng trong việc điều chỉnh lãi suất, nhằm cân đối giữa huy động vốn và nhu cầu tín dụng. Việc giữ ổn định lãi suất cũng góp phần hỗ trợ môi trường lãi vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý.
Trong bối cảnh kinh tế đang phục hồi, dòng tiền nhàn rỗi của người dân vẫn ưu tiên kênh gửi tiết kiệm do tính an toàn cao. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các ngân hàng khiến người gửi tiền ngày càng cân nhắc kỹ hơn trước khi lựa chọn, đặc biệt ở các kỳ hạn dài.
Trong thời gian tới, mặt bằng lãi suất ngân hàng có thể tiếp tục duy trì ổn định, với khả năng điều chỉnh nhẹ tùy theo diễn biến kinh tế vĩ mô và nhu cầu vốn của hệ thống ngân hàng.