Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Nghị quyết số 280/NQ-CP ngày 22/9/2026 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
![]() |
| Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng. |
Văn bản này đưa những định hướng lớn về FDI vào một chương trình hành động cụ thể, từ cải thiện môi trường đầu tư đến lựa chọn dự án, đào tạo nhân lực và hậu kiểm.
Điểm đáng chú ý nằm ở sự thay đổi trong cách xác định một dòng vốn FDI có giá trị đối với nền kinh tế.
Không chỉ cần thêm vốn
Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD. Nhưng song song với quy mô vốn, Nghị quyết đặt ra yêu cầu 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại.
Định hướng này cho thấy cuộc cạnh tranh FDI không còn đơn thuần là cuộc đua về số lượng dự án.
Những dự án được kỳ vọng nhiều hơn là dự án có công nghệ lõi, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trung tâm điều hành hoặc khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nghị quyết cũng đặt mục tiêu tăng 30% số tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam, đồng thời thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng hoặc trung tâm R&D tại Việt Nam.
Như vậy, chất lượng của dòng vốn đang được đặt ngang với quy mô dòng vốn.
Ưu đãi đi cùng cam kết
Một thay đổi đáng chú ý khác nằm ở cách thiết kế chính sách ưu đãi.
Theo Kế hoạch hành động của Chính phủ, Bộ Tài chính được giao nghiên cứu cơ chế ưu đãi, hỗ trợ vượt trội và quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt, linh hoạt cho các dự án cốt lõi được ưu tiên thu hút. Tuy nhiên, các ưu đãi này được gắn với kết quả về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động, giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
![]() |
| Kế hoạch hành động yêu cầu các địa phương xây dựng danh mục dự án ưu tiên phù hợp với lợi thế từng vùng, hướng tới những dự án có khả năng kết nối doanh nghiệp nội địa, hình thành cụm liên kết ngành và hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ - (Ảnh minh họa). |
Cách tiếp cận này tạo ra một nguyên tắc đáng chú ý: ưu đãi không chỉ dành cho việc nhà đầu tư đến Việt Nam, mà phải gắn với những giá trị nhà đầu tư tạo ra tại Việt Nam.
Cùng với đó, cơ chế hậu kiểm được đặt ra rõ hơn. Việc thực hiện cam kết đầu tư sẽ được đánh giá định kỳ; trường hợp không thực hiện đúng cam kết có thể bị thu hồi ưu đãi, hỗ trợ hoặc áp dụng biện pháp phù hợp. Các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, đóng góp cho R&D, đào tạo nhân lực, phát triển nhà cung ứng Việt Nam và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, năng lượng được ưu tiên.
Doanh nghiệp Việt Nam phải có chỗ trong chuỗi FDI
Nếu chỉ có nhà máy FDI lớn lên nhưng doanh nghiệp Việt Nam đứng ngoài chuỗi cung ứng, hiệu ứng lan tỏa sẽ bị giới hạn.
Nghị quyết 10-NQ/TW vì vậy đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 40-50%.
Đây là một bài toán khác hẳn việc chỉ tăng số lượng dự án.
Một doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam có thể tạo ra thêm thị trường cho doanh nghiệp cơ khí, điện tử, logistics, phần mềm, bao bì, khuôn mẫu, kiểm định, bảo trì hay nhiều dịch vụ hỗ trợ khác. Khi doanh nghiệp trong nước đáp ứng được yêu cầu của chuỗi cung ứng, phần giá trị giữ lại trong nền kinh tế cũng có thể tăng lên.
Vì thế, Kế hoạch hành động yêu cầu các địa phương xây dựng danh mục dự án ưu tiên phù hợp với lợi thế từng vùng, hướng tới những dự án có khả năng kết nối doanh nghiệp nội địa, hình thành cụm liên kết ngành và hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ.
Thủ tục và nhân lực cũng trở thành “hạ tầng” FDI
Muốn cạnh tranh nguồn vốn chất lượng cao, lợi thế không chỉ nằm ở đất đai hay ưu đãi.
Theo đó, Chính phủ yêu cầu đẩy mạnh số hóa quy trình đầu tư, liên thông giữa các cơ quan, quản trị đầu tư trên nền tảng dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo, đồng thời giảm thời gian xử lý thủ tục và chi phí tuân thủ. Các quy định chồng chéo, điều kiện kinh doanh không cần thiết trong nhiều lĩnh vực cũng phải được rà soát để sửa đổi hoặc kiến nghị sửa đổi.
Nhân lực cũng được đưa vào chính sách thu hút FDI. Chính phủ yêu cầu nghiên cứu cơ chế cho phép địa phương sử dụng ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp FDI đào tạo lao động; đồng thời ưu tiên đào tạo các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, dữ liệu, tự động hóa, logistics, tài chính, kỹ năng xanh và kỹ năng số.
Điều này cho thấy cuộc cạnh tranh thu hút FDI đang chuyển từ “ai có nhiều ưu đãi hơn” sang “ai có hệ sinh thái đầu tư tốt hơn”.
Với Việt Nam, mục tiêu cuối cùng không chỉ là đưa thêm vốn ngoại vào nền kinh tế. Nghị quyết 10-NQ/TW hướng tới việc nâng cao năng lực sản xuất, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Khi đó, thước đo của FDI sẽ không chỉ nằm ở số vốn đăng ký hay số dự án mới, mà còn ở công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp Việt Nam tham gia được bao sâu, nhân lực được đào tạo và giá trị gia tăng được tạo ra trong nước.
Đó chính là cuộc sàng lọc mới mà chính sách FDI đang đặt ra cho cả nhà đầu tư nước ngoài lẫn nền kinh tế Việt Nam.