Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Hữu Thập, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc doanh nghiệp không cần hỗ trợ mà ở chỗ nhiều chính sách chưa đến được với doanh nghiệp do thủ tục phức tạp, thiếu đầu mối chịu trách nhiệm, thời gian xử lý kéo dài và chưa có cơ chế đo lường hiệu quả.
Theo ông Thập, dự thảo luật cần chuyển mạnh từ tư duy “ban hành chính sách hỗ trợ” sang tư duy “bảo đảm doanh nghiệp tiếp cận được chính sách”.
![]() |
| Ông Nguyễn Hữu Thập, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang phát biểu tại Hội thảo. |
Để thực hiện mục tiêu này, ông đề xuất luật hóa cơ chế “một cửa” trong triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, doanh nghiệp chỉ cần kê khai thông tin một lần, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm khai thác dữ liệu từ các hệ thống đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm xã hội, hóa đơn điện tử và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thay vì yêu cầu doanh nghiệp nộp đi nộp lại nhiều loại giấy tờ.
Đồng thời, mỗi chính sách hỗ trợ cần xác định rõ cơ quan đầu mối thực hiện, thời hạn giải quyết hồ sơ và công khai trạng thái xử lý. Trường hợp từ chối hỗ trợ phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do và hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ.
“Những sai sót thủ tục lần đầu cần được tạo điều kiện khắc phục thay vì trở thành căn cứ loại doanh nghiệp khỏi các chương trình hỗ trợ”, ông Thập nhấn mạnh.
Đại diện cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang cũng kiến nghị dự thảo luật cần quy định rõ nguồn lực tài chính dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo đó, ngân sách hằng năm cần có khoản chi riêng cho hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; ngân sách trung ương cần bổ sung có mục tiêu cho các địa phương miền núi, vùng khó khăn và những địa phương chưa cân đối được nguồn lực.
Đặc biệt, cần luật hóa cơ chế “phiếu hỗ trợ” (voucher) đối với các dịch vụ đào tạo, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và xúc tiến thương mại. Việc thanh toán cần căn cứ vào kết quả đầu ra và mức độ hài lòng của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.
Cùng quan điểm, ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên cho rằng chính sách hỗ trợ hiện nay vẫn chưa được truyền tải đầy đủ đến doanh nghiệp.
Khảo sát tại địa phương cho thấy hơn 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh chưa tiếp cận được các chương trình hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực tín dụng ưu đãi, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại, tư vấn pháp lý và đào tạo nhân lực.
Nguyên nhân chủ yếu là thông tin chính sách chưa được phổ biến đầy đủ, thủ tục tiếp cận còn phức tạp và nhiều điều kiện chưa phù hợp với thực tế của doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo “Tham vấn chính sách, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, gợi mở định hướng hoàn thiện chính sách trong giai đoạn mới” |
Tiếp cận vốn tiếp tục là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm.
Theo ông Nguyễn Hữu Thập, hoạt động bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ vốn cần được đổi mới theo hướng đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền, đơn hàng, hợp đồng kinh doanh, dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, lịch sử thanh toán và phương án sản xuất kinh doanh thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản thế chấp.
Ông cũng đề nghị quy định rõ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của các quỹ bảo lãnh tín dụng khi phát sinh rủi ro nhằm bảo đảm công cụ bảo lãnh thực sự phát huy hiệu quả.
Từ thực tiễn tại Hưng Yên, ông Đỗ Văn Vẻ cho biết khoảng 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện không đủ tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp buộc phải tìm đến các nguồn vốn phi chính thức với lãi suất cao, làm gia tăng chi phí sản xuất và giảm sức cạnh tranh.
Trong khi đó, hiệu quả hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng tại nhiều địa phương còn hạn chế do quy mô nhỏ và điều kiện tiếp cận còn nhiều rào cản.
Do đó, cần tăng năng lực hoạt động cho các quỹ này, đơn giản hóa thủ tục bảo lãnh và mở rộng hình thức bảo lãnh dựa trên dòng tiền, hợp đồng kinh doanh thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm.
Các đại biểu thống nhất cho rằng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Ông Nguyễn Hữu Thập đề xuất bổ sung các gói hỗ trợ ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phần mềm kế toán, bán hàng, quản trị nhân sự, quản lý kho, hóa đơn điện tử, truy xuất nguồn gốc và an toàn dữ liệu theo phương thức “cầm tay chỉ việc”, gắn với sản phẩm đầu ra cụ thể.
Bên cạnh đó, các địa phương cần công khai quỹ đất, nhà xưởng và tài sản công chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận theo thủ tục rút gọn.
Ông Đỗ Văn Vẻ cũng kiến nghị xây dựng chương trình hỗ trợ chuyển đổi số dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo lộ trình cụ thể, có hỗ trợ chi phí tư vấn ban đầu và danh mục giải pháp công nghệ phù hợp với từng quy mô doanh nghiệp.
Đồng thời, cần xây dựng các gói tín dụng xanh, chương trình tư vấn miễn phí về môi trường, tiết kiệm năng lượng và các tiêu chuẩn phát triển bền vững nhằm giúp doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Hữu Thập, thời gian miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm cần được tính từ năm đầu tiên phát sinh thu nhập chịu thuế thay vì tính cứng từ thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Ngoài ra, hộ kinh doanh chuyển đổi cần được hỗ trợ về kế toán, hóa đơn điện tử, chữ ký số, quyết toán thuế trong ít nhất 2 năm đầu hoạt động; đồng thời có giai đoạn chuyển tiếp từ 24-36 tháng để thích nghi với môi trường quản trị doanh nghiệp.
Đồng quan điểm, ông Đỗ Văn Vẻ cho rằng nhiều hộ kinh doanh hiện vẫn e ngại chuyển đổi do lo lắng về nghĩa vụ thuế, kế toán, hóa đơn và các chi phí tuân thủ pháp luật phát sinh sau khi trở thành doanh nghiệp.
Bà Ngọc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên, cho rằng dự thảo luật cần bổ sung mạnh hơn vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong giám sát và phản biện chính sách.
Theo bà, Hiệp hội doanh nghiệp không chỉ là một thành phần trong hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp mà cần được trao quyền tham gia phản biện, giám sát việc triển khai các chương trình hỗ trợ; định kỳ tổng hợp đánh giá mức độ thụ hưởng chính sách và kiến nghị hoàn thiện cơ chế với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bà cũng đề nghị bổ sung cơ chế công khai kết quả thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hằng năm, bao gồm số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ, kinh phí đã sử dụng và hiệu quả đạt được nhằm nâng cao tính minh bạch, tránh dàn trải nguồn lực.
Đối với Quỹ Bảo lãnh tín dụng, cần xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên số lượng doanh nghiệp được bảo lãnh, tỷ lệ giải ngân thành công và mức độ tiếp cận thực tế của doanh nghiệp.
Ngoài ra, dự thảo luật cần quy định UBND cấp tỉnh tổ chức đối thoại với doanh nghiệp nhỏ và vừa tối thiểu hai lần mỗi năm, đồng thời công khai kết quả xử lý các kiến nghị để tăng cường trách nhiệm giải trình.
Các đại biểu đều thống nhất rằng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) cần được thiết kế theo hướng thực chất, minh bạch và lấy hiệu quả thụ hưởng của doanh nghiệp làm trung tâm. Chỉ khi các chính sách được triển khai thuận lợi, dễ tiếp cận và có cơ chế giám sát hiệu quả, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa mới có thể phát huy đầy đủ vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho xã hội.