UBND TP Đà Nẵng vừa ban hành Quyết định 4140/QĐ-UBND về Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030, gọi tắt là Đà Nẵng Go Global.
![]() |
Chương trình cụ thể hóa Go Global quốc gia tại Đà Nẵng, hướng đến nâng năng lực đầu tư, kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp, tăng hiện diện tại thị trường nước ngoài, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu, đồng thời phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.
Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 60 lượt doanh nghiệp được đào tạo về đầu tư, kinh doanh toàn cầu; 15 lượt doanh nghiệp được tư vấn, xây dựng kế hoạch vươn ra thị trường quốc tế; ít nhất 5 doanh nghiệp được tư vấn đầu tư ra nước ngoài, đặt văn phòng đại diện hoặc thiết lập hình thức hiện diện thương mại tại thị trường ngoại.
Nhìn từ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, những con số này không lớn nếu đặt cạnh quy mô cộng đồng doanh nghiệp. Nhưng điểm đáng chú ý nằm ở cách hỗ trợ: thay vì chỉ đưa doanh nghiệp đến hội chợ, triển lãm hoặc kết nối giao thương, chính sách bắt đầu hướng đến cả quá trình từ chuẩn bị năng lực, lựa chọn thị trường đến xây dựng chỗ đứng ở nước ngoài.
Từ bán hàng ra nước ngoài đến xây dựng chỗ đứng ở thị trường ngoại
Với nhiều doanh nghiệp nhỏ, xuất khẩu thường bắt đầu bằng một đơn hàng. Nhưng có đơn hàng khác với có thị trường.
Doanh nghiệp có thể bán được một lô hàng sang Nhật Bản, Mỹ hay châu Âu nhưng để duy trì thị trường phải giải quyết hàng loạt vấn đề phía sau: tiêu chuẩn sản phẩm, sở hữu trí tuệ, hợp đồng, logistics, thanh toán quốc tế, thuế, dữ liệu khách hàng, xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối.
Đây cũng là những khâu doanh nghiệp nhỏ thường yếu hơn doanh nghiệp lớn.
Đà Nẵng Go Global vì thế đặt trọng tâm vào nâng năng lực đầu tư và kinh doanh quốc tế, thay vì giới hạn ở hoạt động xúc tiến xuất khẩu.
Nhóm ngành được thành phố lựa chọn khá rộng nhưng tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tham gia chuỗi giá trị xuyên biên giới, gồm công nghiệp chế biến, chế tạo như điện tử, cơ khí, dệt may; công nghiệp công nghệ cao như thiết kế và sản xuất chip bán dẫn, linh kiện điện tử thông minh; công nghệ số, công nghệ thông tin và công nghiệp hỗ trợ.
Ở khu vực nông nghiệp, chương trình hướng đến chế biến nông sản, thủy sản và gỗ. Nhóm dịch vụ gồm thương mại điện tử, logistics, tài chính, du lịch và các dịch vụ kết nối.
Thị trường cũng không bó hẹp trong một khu vực. Danh sách mục tiêu trải từ Đông Nam Á, Đông Bắc Á tới EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia và Trung Đông.
Cách lựa chọn này mở ra nhiều “cửa vào” cho doanh nghiệp nhỏ.
Một doanh nghiệp cơ khí không nhất thiết phải xây dựng ngay thương hiệu riêng tại Mỹ hay EU. Cửa đi phù hợp hơn có thể là trở thành nhà cung ứng linh kiện cho doanh nghiệp FDI hoặc tập đoàn đã có chuỗi sản xuất toàn cầu.
Doanh nghiệp phần mềm có thể xuất khẩu dịch vụ mà không cần đầu tư nhà máy ở nước ngoài. Doanh nghiệp OCOP, thực phẩm chế biến có thể thử thị trường qua thương mại điện tử xuyên biên giới trước khi đầu tư hệ thống phân phối vật lý.
Với logistics và du lịch, cơ hội lại nằm ở khả năng kết nối dòng hàng hóa và khách quốc tế với chính Đà Nẵng.
Điểm thay đổi quan trọng nằm ở đây: “Go Global” không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều phải đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Mỗi doanh nghiệp có thể chọn một nấc phù hợp với quy mô vốn và năng lực quản trị.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bước đi đầu tiên thậm chí có thể chỉ là chuẩn hóa sản phẩm, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, tìm một nhà phân phối hoặc đưa hàng lên nền tảng thương mại điện tử quốc tế.
Sau đó mới tính đến văn phòng đại diện, công ty con hay đầu tư trực tiếp.
Cách tiếp cận theo từng nấc giúp giảm một trong những rủi ro lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ: bỏ quá nhiều vốn vào thị trường mà mình chưa hiểu rõ.
Doanh nghiệp nhỏ cần chuẩn bị gì?
Giá trị trực tiếp nhất của Đà Nẵng Go Global đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là khả năng giảm chi phí “học thị trường”.
Để tự thâm nhập một thị trường mới, doanh nghiệp phải bỏ tiền nghiên cứu nhu cầu, tìm đối tác, thuê tư vấn pháp lý, khảo sát kênh phân phối, xây dựng thương hiệu và xử lý các yêu cầu kỹ thuật. Với doanh nghiệp lớn, đây là một khoản đầu tư. Với doanh nghiệp nhỏ, nó có thể trở thành rào cản khiến kế hoạch xuất khẩu bị dừng ngay từ đầu.
Khi một phần hoạt động đào tạo, tư vấn và kết nối được tổ chức ở cấp thành phố, doanh nghiệp có cơ hội giảm chi phí thử - sai.
Quan trọng hơn, chương trình đặt mục tiêu tư vấn doanh nghiệp xây dựng kế hoạch vươn ra quốc tế. Đây là bước thường bị bỏ qua.
Không ít doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu xuất khẩu sau khi nhận được một đơn hàng hoặc gặp một nhà nhập khẩu, thay vì đi từ chiến lược thị trường. Khi đối tác thay đổi hoặc đơn hàng mất đi, thị trường cũng mất theo.
Một kế hoạch bài bản phải trả lời được ít nhất các câu hỏi: bán sản phẩm nào, vào quốc gia nào, khách hàng là ai, tiêu chuẩn nào phải đáp ứng, giá bán có đủ bù chi phí logistics và thuế hay không, thương hiệu được bảo hộ thế nào và doanh nghiệp có đủ nguồn lực duy trì thị trường trong vài năm hay không.
Thương mại điện tử xuyên biên giới tạo thêm một lối đi khác.
Thay vì phải đầu tư ngay mạng lưới bán hàng vật lý, doanh nghiệp có thể sử dụng nền tảng số để kiểm nghiệm nhu cầu. Dữ liệu về lượt truy cập, đơn hàng, tỷ lệ quay lại và phản hồi khách hàng có thể giúp doanh nghiệp đánh giá thị trường trước khi quyết định đầu tư lớn hơn.
Nhưng bán hàng xuyên biên giới cũng không đơn giản là đưa sản phẩm lên sàn.
Doanh nghiệp vẫn phải xử lý tiêu chuẩn hàng hóa, đóng gói, kho vận, thanh toán, thuế, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ và chính sách đổi trả. Vì vậy, phần đào tạo và tư vấn của chương trình sẽ có ý nghĩa nếu đi sâu vào từng thị trường và từng ngành, thay vì tổ chức những khóa phổ biến kiến thức chung.
Với mục tiêu chỉ 15 lượt doanh nghiệp được tư vấn xây dựng kế hoạch ra quốc tế và ít nhất 5 doanh nghiệp được hỗ trợ tư vấn thiết lập hiện diện ở nước ngoài đến năm 2030, khả năng lựa chọn doanh nghiệp có tiềm năng thực sự sẽ là yếu tố quan trọng.
Doanh nghiệp muốn tham gia cũng không nên chờ chính sách “đưa ra nước ngoài”.
Việc cần làm trước tiên là tự kiểm tra sức khỏe của chính mình: sản phẩm có lợi thế gì, công suất có đáp ứng đơn hàng lớn hay không, hệ thống quản trị chất lượng đã đạt chuẩn nào, đội ngũ có người phụ trách thị trường quốc tế hay chưa, hồ sơ sở hữu trí tuệ ra sao và dòng tiền có đủ chịu một giai đoạn đầu tư chưa sinh lợi.
Với doanh nghiệp sản xuất, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và chất lượng ngày càng trở thành điều kiện để bước vào chuỗi cung ứng. Với doanh nghiệp công nghệ, vấn đề có thể nằm ở sở hữu trí tuệ, bảo mật dữ liệu và năng lực cung cấp dịch vụ xuyên múi giờ. Với doanh nghiệp thực phẩm, đó là tiêu chuẩn an toàn, nhãn mác và hệ thống phân phối.
Nói cách khác, thị trường quốc tế không bắt đầu tại sân bay hay một hội chợ xúc tiến thương mại. Nó bắt đầu ngay trong nhà máy và bộ máy quản trị của doanh nghiệp.
Đà Nẵng Go Global có thể giúp rút ngắn đoạn đường từ doanh nghiệp địa phương tới khách hàng quốc tế. Nhưng chính sách chỉ mở cửa, doanh nghiệp có bước qua được cánh cửa đó hay không vẫn phụ thuộc vào năng lực sản phẩm, quản trị, tài chính và khả năng duy trì thị trường sau những đơn hàng đầu tiên.
Nếu chương trình tạo được một nhóm doanh nghiệp đi trước và những doanh nghiệp này thực sự hình thành mạng lưới khách hàng, nhà phân phối hoặc cơ sở kinh doanh ở nước ngoài, hiệu ứng sẽ lớn hơn con số doanh nghiệp được hỗ trợ trực tiếp. Kinh nghiệm thị trường, đối tác, logistics và tiêu chuẩn từ những doanh nghiệp đầu tiên có thể trở thành đường dẫn để các doanh nghiệp nhỏ hơn cùng tham gia chuỗi giá trị.
Khi đó, “Go Global” mới không chỉ là đưa vài doanh nghiệp Đà Nẵng ra nước ngoài, mà là đưa một phần hệ sinh thái doanh nghiệp của thành phố vào thị trường toàn cầu.