Đà tăng xuất khẩu đang mở thêm cơ hội cho rau quả Việt Nam tiếp cận các thị trường xa và có yêu cầu chất lượng cao. Nhưng với nông sản tươi, giá trị lô hàng không chỉ được quyết định tại vùng trồng hay thời điểm ký hợp đồng, mà còn phụ thuộc vào khả năng duy trì chất lượng qua từng công đoạn thu hoạch, sơ chế, bảo quản và vận chuyển.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu rau quả 9 tháng năm 2026 ước đạt 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tổn thất sau thu hoạch của nông sản Việt Nam vẫn ở mức cao, cho thấy dư địa nâng giá trị không chỉ nằm ở mở rộng thị trường mà còn ở việc giữ lại nhiều hơn giá trị của sản phẩm đã thu hoạch.
Công nghệ bảo quản mở rộng thị trường xuất khẩu
Với trái cây tươi, thời gian bảo quản là một trong những yếu tố quyết định phương thức vận chuyển và phạm vi thị trường có thể tiếp cận. Nếu chất lượng suy giảm nhanh, doanh nghiệp có thể phải lựa chọn phương thức vận tải nhanh hơn nhưng chi phí cao hơn.
![]() |
| Đối với những hàng hóa đặc thù như rau củ quả, trái cây, để đảm bảo chất lượng sản phẩm được lưu giữ tốt nhất phục vụ công tác phân phối, bán hàng thì việc sử dụng kho lạnh bảo quản là giải pháp phù hợp hàng đầu - Ảnh minh họa: https://als.com.vn |
Ngược lại, khi thời gian lưu trữ được kéo dài trong điều kiện phù hợp, khả năng tổ chức vận chuyển đường biển và giao hàng đến những thị trường xa sẽ được mở rộng.
Theo bà Trần Nguyễn Khánh Vy - Phó Tổng Giám đốc Công ty Goodlife, công nghệ xử lý nhiệt hơi nước nóng được đưa vào hoạt động từ năm 2012 giúp doanh nghiệp xuất khẩu hơn 5.000 tấn trái cây mỗi năm, trong đó thanh long chiếm trên 80%.
Để đáp ứng yêu cầu của các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Australia, doanh nghiệp kết hợp nhiều giải pháp gồm làm sạch, xử lý nhiệt, kho lạnh kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm, cùng hệ thống quản lý khí ethylene nhằm làm chậm quá trình chín. Mỗi công nghệ đảm nhiệm một chức năng riêng, từ hỗ trợ đáp ứng yêu cầu kiểm dịch đến duy trì chất lượng trong quá trình lưu trữ.
Thông tin với báo chí, bà Vy cho biết việc kết hợp đồng bộ các công nghệ giúp chất lượng sản phẩm ổn định hơn, kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng. Doanh nghiệp cho biết sản lượng xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, đồng thời hướng tới phát triển thêm sản phẩm chế biến để nâng tỷ trọng giá trị gia tăng.
Trường hợp này cho thấy đầu tư công nghệ sau thu hoạch không đơn thuần nhằm giảm số lượng hàng hư hỏng. Khi đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và kiểm dịch, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong lịch giao hàng, duy trì quan hệ với khách hàng và tìm kiếm thị trường mới. Tuy nhiên, mức tăng trưởng xuất khẩu của một doanh nghiệp không thể mặc nhiên được xem là kết quả riêng của công nghệ bảo quản, bởi còn phụ thuộc thị trường, nguồn nguyên liệu và năng lực kinh doanh.
Giảm trung chuyển để hạn chế chi phí và rủi ro
Bên cạnh việc đầu tư công nghệ tại nhà máy đóng gói, cách tổ chức logistics cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và chi phí của nông sản. Mỗi lần chuyển hàng giữa các địa điểm có thể làm phát sinh chi phí bốc dỡ, thời gian chờ và nguy cơ biến động nhiệt độ nếu quy trình không được kiểm soát tốt.
![]() |
| Đóng gói chôm chôm xuất khẩu tại Công ty TNHH Xuất, nhập khẩu trái cây Chánh Thu, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre - Ảnh: https://baoangiang.com.vn |
Đại diện Công ty TNHH Chiếu xạ Toàn Phát cho biết việc bố trí kho lạnh gắn với cơ sở xử lý và kết hợp các công đoạn tại cùng địa điểm giúp giảm số lần trung chuyển, tiết kiệm thời gian và hạn chế rủi ro trong hành trình xuất khẩu. Mô hình tích hợp này hướng tới việc kết nối xử lý, lưu trữ và vận chuyển trong một chuỗi vận hành liên tục.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, thời gian bảo quản của một số sản phẩm bưởi có thể lên tới 70 ngày khi áp dụng điều kiện công nghệ phù hợp. Đây là cơ sở để mở rộng khả năng vận chuyển đến những thị trường xa, nhưng thời gian bảo quản thực tế vẫn phụ thuộc giống quả, độ chín khi thu hoạch, điều kiện xử lý, nhiệt độ và thời gian hành trình.
Vì vậy, không thể áp dụng một phương án bảo quản hoặc vận tải cho tất cả mặt hàng. Doanh nghiệp cần tính toán tổng chi phí của từng phương án, bao gồm sơ chế, bao bì, xử lý kiểm dịch, kho lạnh, cước vận chuyển, thời gian lưu kho và rủi ro hàng không đạt chất lượng khi đến cảng đích.
Một phương án có cước vận tải thấp hơn chưa chắc mang lại hiệu quả cao hơn nếu thời gian vận chuyển kéo dài khiến hàng giảm giá trị. Ngược lại, đầu tư công nghệ phù hợp có thể giúp doanh nghiệp lựa chọn phương thức vận tải tiết kiệm hơn mà vẫn đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Chất lượng phải được kiểm soát từ vùng nguyên liệu
Công nghệ bảo quản chỉ phát huy hiệu quả khi sản phẩm được thu hoạch, sơ chế và vận chuyển đúng kỹ thuật ngay từ đầu. Nếu trái cây bị dập, thu hái không đúng độ chín hoặc xử lý không phù hợp trước khi đưa vào kho lạnh, những tổn hại về chất lượng khó có thể khắc phục hoàn toàn bằng thiết bị hiện đại.
Tại Hoàng Phát Fruit, bà Nguyễn Nam Phương Thảo - Giám đốc Kinh doanh, cho biết doanh nghiệp kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu để đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu của các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Australia và New Zealand.
Theo kế hoạch được doanh nghiệp chia sẻ trong tháng 9/2026, sản lượng xuất khẩu dự kiến trong những tháng cuối năm đạt 400–500 tấn mỗi tháng sang Hàn Quốc và Nhật Bản, cùng 100–200 tấn mỗi tháng sang Mỹ và các thị trường châu Úc. Đây là kế hoạch của doanh nghiệp, không phải sản lượng đã được xác nhận thực hiện.
Thực tế này đặt ra yêu cầu liên kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã, nhà đóng gói và đơn vị logistics. Vùng nguyên liệu cần bảo đảm quy trình canh tác, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc; nhà đóng gói phải tổ chức phân loại, sơ chế và xử lý đúng quy trình; các đơn vị vận chuyển phải duy trì điều kiện bảo quản phù hợp trong suốt hành trình.
Khi các mắt xích thiếu liên kết, doanh nghiệp có thể phải chịu chi phí kiểm tra, phân loại lại hoặc loại bỏ hàng không đạt chuẩn. Bởi vậy, đầu tư chuỗi lạnh cần đi cùng tổ chức lại sản xuất và kiểm soát chất lượng từ đầu vào, thay vì chỉ tập trung vào công đoạn cuối.
Bài toán vốn: đầu tư đúng quy mô, đo hiệu quả thực chất
Số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy tổn thất sau thu hoạch của nông sản Việt Nam dao động khoảng 20–25% sản lượng, tương đương 3,5–4,1 tỷ USD mỗi năm. Đây là mức ước tính chung của ngành nông nghiệp, không phải tỷ lệ áp dụng đồng nhất cho riêng rau quả hay từng loại trái cây.
TS. Lê Minh Hùng - Giám đốc Phân viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ Sau thu hoạch, cho biết dù công nghệ và thiết bị đã được đầu tư trong những năm gần đây, nhiều khâu vẫn thiếu thiết bị phù hợp. Quy mô sản xuất nhỏ, điều kiện địa hình và khí hậu khác nhau khiến việc triển khai máy móc đồng bộ gặp khó khăn; trong khi một số kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp.
Theo ông Hùng, cần phát triển thiết bị phù hợp với quy mô hộ sản xuất và hợp tác xã, có thể sử dụng tại vườn hoặc điểm sơ chế. Các trung tâm dịch vụ dùng chung cũng là một hướng giúp nhiều đơn vị tiếp cận công nghệ mà không phải tự đầu tư toàn bộ dây chuyền.
Với doanh nghiệp, bài toán không chỉ là nguồn vốn ban đầu cho nhà xưởng, thiết bị và hệ thống điều khiển. Chi phí điện, bảo trì, nhân lực và vận hành cũng cần được tính vào phương án đầu tư. Nếu nguồn hàng tập trung theo mùa vụ khiến công suất khai thác thấp trong phần lớn thời gian còn lại, thời gian hoàn vốn có thể kéo dài.
Do đó, lựa chọn công nghệ cần dựa trên sản lượng nguyên liệu dự kiến, hợp đồng tiêu thụ, yêu cầu của thị trường và khả năng tổ chức dòng tiền. Với doanh nghiệp nhỏ, việc thuê dịch vụ sơ chế, xử lý và lưu trữ tại các cơ sở dùng chung có thể phù hợp hơn so với tự xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh. Với doanh nghiệp có nguồn hàng ổn định, đầu tư riêng có thể tạo lợi thế nếu công suất được khai thác đủ và chi phí vận hành được kiểm soát.
Bà Trần Nguyễn Khánh Vy cũng đề xuất tăng kết nối giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm công nghệ để thúc đẩy ứng dụng khoa học, chuyển đổi số và tự động hóa. Việc thương mại hóa công nghệ theo nhu cầu thực tế sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, đồng thời hạn chế rủi ro đầu tư vào thiết bị không phù hợp.
Về dài hạn, hiệu quả đầu tư sau thu hoạch không nên được đánh giá bằng số kho lạnh xây mới hay quy mô thiết bị đã lắp đặt. Những chỉ số quan trọng hơn là tỷ lệ hao hụt giảm bao nhiêu, chất lượng sản phẩm được duy trì đến đâu, chi phí trên mỗi lô hàng thay đổi thế nào và doanh nghiệp có thể thu hồi vốn trong bao lâu.
Khi công nghệ bảo quản được lựa chọn đúng, vùng nguyên liệu được tổ chức ổn định và logistics được kết nối đồng bộ, doanh nghiệp mới có thể chuyển đà tăng xuất khẩu thành giá trị gia tăng thực chất. Đây cũng là nền tảng để rau quả Việt Nam cạnh tranh bền vững hơn tại những thị trường ngày càng coi trọng chất lượng, truy xuất nguồn gốc và độ tin cậy của chuỗi cung ứng.
