![]() |
| 10 hành vi có thể bị xác định là trốn thuế từ 1/7/2026. |
Theo quy định tại khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, có 10 hành vi có thể bị xác định là trốn thuế khi dẫn đến hậu quả làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn. Cụ thể: Một là không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn (kể cả sau thời hạn gia hạn) dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn.
Hai là không ghi chép, ghi nhận trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.
Ba là không lập hóa đơn và không kê khai thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định, hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế để khai thuế.
Bốn là sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để hạch toán hàng hóa, dịch vụ mua vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế nhằm làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn, khấu trừ, không phải nộp.
Năm là sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không phải nộp.
Sáu là khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà tổ chức, cá nhân vi phạm không tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định.
Bẩy là cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Tám là cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.
Chín là sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
Mười là người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
Theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà chỉ bị xử phạt về vi phạm thủ tục thuế trong một số trường hợp như không phát sinh số thuế phải nộp hoặc đã nộp đầy đủ số tiền thuế và tiền chậm nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế hoặc lập biên bản vi phạm.
Quy định này cho thấy không phải mọi trường hợp nộp hồ sơ chậm đều mặc nhiên bị coi là trốn thuế. Việc xem xét bản chất hành vi, hậu quả thực tế và thời điểm khắc phục vi phạm là yếu tố quan trọng trong quá trình xử lý. Người nộp thuế cần nắm được ranh giới này để chủ động xử lý đúng hướng khi phát sinh sai sót.
Sự phát triển mạnh của thương mại điện tử, mạng xã hội và hoạt động livestream bán hàng khiến nhiều cá nhân phát sinh doanh thu từ nhiều nguồn khác nhau. Không ít trường hợp vẫn cho rằng chỉ khi có cửa hàng cố định mới phải thực hiện nghĩa vụ thuế. Trong bối cảnh dữ liệu từ sàn thương mại điện tử, tài khoản thanh toán, hóa đơn điện tử và các nền tảng số ngày càng được kết nối với hệ thống quản lý thuế, việc không kê khai đầy đủ doanh thu có thể làm gia tăng rủi ro vi phạm.
Một trong những rủi ro phổ biến là bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ nhưng không lập hóa đơn theo quy định hoặc ghi nhận doanh thu thấp hơn thực tế. Ví dụ minh họa: một cửa hàng nhận thanh toán 20 triệu đồng nhưng chỉ lập hóa đơn với giá trị 12 triệu đồng. Nếu việc này làm giảm số thuế phải nộp, cơ quan chức năng có thể xem xét trách nhiệm theo quy định pháp luật về thuế.
Các doanh nghiệp hoạt động trên nhiều kênh bán hàng hoặc có nhiều nguồn thu thường đối mặt với nguy cơ bỏ sót doanh thu trong quá trình hạch toán. Nếu doanh thu thực tế phát sinh không được ghi nhận đầy đủ trong sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế, doanh nghiệp có thể bị truy thu thuế, xử phạt vi phạm hành chính và phải nộp tiền chậm nộp theo quy định.
Một số tổ chức, cá nhân vẫn có quan niệm chỉ cần có hóa đơn là đủ điều kiện hạch toán chi phí. Tuy nhiên, hóa đơn chỉ có giá trị khi phản ánh giao dịch thực tế, có đầy đủ hồ sơ, chứng từ và cơ sở chứng minh hoạt động mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Đây là nhóm rủi ro đặc biệt lớn đối với bộ phận kế toán và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, sản xuất xuất khẩu hoặc sử dụng hàng hóa thuộc diện ưu đãi thuế cần đặc biệt chú ý đến việc kê khai, sử dụng đúng mục đích và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo. Việc khai báo không chính xác hoặc sử dụng hàng hóa ưu đãi sai mục đích có thể dẫn đến rủi ro bị xử lý về thuế.
Một trong những quan niệm sai lầm phổ biến hiện nay là cho rằng khách hàng không lấy hóa đơn thì người bán không cần lập hóa đơn. Thực tế, khi thuộc trường hợp phải lập hóa đơn, người bán vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ này, kể cả khi người mua không có nhu cầu nhận hóa đơn.
Một quan niệm chưa chính xác khác là cho rằng chưa bị cơ quan thuế nhắc nhở thì chưa phát sinh rủi ro. Trong thực tế, nhiều trường hợp chỉ được phát hiện sau quá trình đối chiếu dữ liệu giữa các hệ thống quản lý thuế, hóa đơn điện tử, tài khoản thanh toán và hồ sơ kê khai.
Ngoài ra, một số chủ doanh nghiệp cho rằng mọi trách nhiệm thuộc về bộ phận kế toán. Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật và chủ doanh nghiệp vẫn là những người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với việc thực hiện nghĩa vụ thuế của đơn vị.
Để hạn chế rủi ro, cá nhân và doanh nghiệp nên chủ động rà soát toàn bộ hoạt động kinh doanh trước thời điểm luật có hiệu lực. Các nội dung cần ưu tiên kiểm tra gồm: tình trạng đăng ký thuế và mã số thuế; doanh thu thực tế từ tất cả các kênh bán hàng; quy trình lập và quản lý hóa đơn; hồ sơ kế toán, chứng từ giao dịch và thanh toán; hóa đơn đầu vào và tính hợp pháp của giao dịch.
Đối với hộ kinh doanh và người bán hàng trực tuyến, việc xây dựng thói quen ghi chép doanh thu hằng ngày, lưu trữ chứng từ và tách bạch tài khoản kinh doanh với tài khoản cá nhân sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ phát sinh tranh chấp hoặc vi phạm về thuế.
Thông điệp quan trọng của quy định mới là nghĩa vụ thuế không chỉ dừng ở việc nộp tiền đúng hạn mà còn đòi hỏi tính minh bạch trong toàn bộ quá trình đăng ký, kê khai, quản lý doanh thu, hóa đơn và chứng từ. Trong bối cảnh quản lý thuế ngày càng dựa trên dữ liệu số, việc chủ động rà soát và tuân thủ quy định sẽ giúp người nộp thuế hạn chế rủi ro và tránh các hậu quả pháp lý không đáng có.