Thứ hai 05/10/2026 22:38
Hotline: 024.355.63.010
Email: banbientap.dnhn@gmail.com
Nghiên cứu - Dữ liệu

Việt Nam nỗ lực để trở thành nước thu nhập trung bình cao trước năm 2030

01/03/2023 17:38
Nỗ lực cải cách, phát triển nền kinh tế thị trường đã đưa Việt Nam từ quốc gia kém phát triển trở thành quốc gia có quy mô GDP top 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Ảnh minh họa
Việt Nam có khả năng gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao trước năm 2030 nếu không vướng bẫy thu nhập trung bình thấp

Cải cách thể chế kinh tế mới là “chìa khóa” cho sự phát triển

Thực tiễn từ những lần khủng hoảng kinh tế trước đây cho thấy không phải các chương trình kích cầu, đầu tư công mang lại thành tựu phát triển kinh tế trong những năm tiếp theo. Thay vào đó, cải cách thể chế kinh tế mới là “chìa khóa” cho sự phát triển. Đó là nội dung chính được thảo luận tại tọa đàm đối thoại chính sách Đổi mới thể chế kinh tế tại Việt Nam, hướng tới nước thu nhập trung bình cao trước năm 2030, do Trường Đại học Kinh tế quốc dân phối hợp Viện nghiên cứu Fraser (Canada) và Trung tâm Nghiên cứu giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế-xã hội (Massei) tổ chức ngày 1/3.

Tọa đàm thu hút được sự quan tâm lớn từ khoảng 150 đại biểu gồm: đại diện Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, các cơ quan bộ, ngành, các Viện nghiên cứu, đại diện các Trường Đại học khối ngành Kinh tế, các chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp...

Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập bình quân đầu người (GNI/đầu người) của Việt Nam năm 2021 ước đạt 3.590 USD. Với mức thu nhập này, Việt Nam đang tiến sát đến ngưỡng khởi đầu của nhóm các nước thu nhập trung bình cao (theo phân loại của WB). Tuy nhiên, kinh nghiệm thế giới cho thấy, đa số các quốc gia khi chạm đến ngưỡng này thì tốc độ tăng trưởng chậm dần, nhiều bất ổn kinh tế xuất hiện mang tính cơ cấu rất khó giải quyết dứt điểm, trong khi lại phải đối mặt với nhiều vấn đề về già hoá dân số, an sinh xã hội, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên… Hệ quả là chỉ rất ít các quốc gia vượt qua được bẫy thu nhập trung bình để trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Nỗ lực cải cách, phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986 tới nay đã đưa Việt Nam từ quốc gia kém phát triển thành quốc gia có quy mô GDP nằm trong nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là thời điểm quan trọng để Việt Nam xem xét, đánh giá thể chế kinh tế thị trường của mình nhằm chuẩn bị tốt cho giai đoạn thuộc nhóm thu nhập trung bình cao; đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang gặp nhiều bất ổn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và xung đột giữa Ucraine và Nga, dẫn đến lạm phát cao, buộc các Ngân hàng Trung ương trên toàn cầu phải thắt chặt tiền tệ, có nguy cơ gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu.

Phát biểu khai mạc tọa đàm, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Chương, Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế quốc dân cho biết, những nỗ lực xây dựng thể chế kinh tế thị trường trong hơn 30 năm Đổi mới đã góp phần quan trọng vào việc đưa Việt Nam từ một nước có thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 200 USD vào đầu những năm 1990 lên 3.590 USD vào năm 2021.

Với mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay, Việt Nam có khả năng gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao trước năm 2030 nếu không vướng bẫy thu nhập trung bình thấp.

“Kinh nghiệm thế giới cho thấy, trong số 101 quốc gia có mức thu nhập trung bình trong thập niên 1960, chỉ có 13 quốc gia trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2008. Thực tiễn này cho thấy để biến khát vọng thành hiện thực, Việt Nam phải tiếp tục con đường đã chứng tỏ mang lại thành công trong hơn 30 năm qua, đó là phát triển kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế”, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nói.

Cũng theo kinh nghiệm thế giới, đa số các quốc gia khi chạm đến ngưỡng thu nhập của Việt Nam hiện nay sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm dần, nhiều bất ổn kinh tế xuất hiện mang tính cơ cấu rất khó giải quyết dứt điểm trong khi lại phải đối mặt với nhiều vấn đề như: già hóa dân số, an sinh xã hội, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên... Hệ quả là rất ít quốc gia vượt qua được bẫy thu nhập trung bình để trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Nỗ lực cải cách, phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986 đã đưa Việt Nam từ quốc gia kém phát triển trở thành quốc gia có quy mô GDP nằm trong nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Đây là thời điểm quan trọng để Việt Nam xem xét, đánh giá thể chế kinh tế thị trường của mình nhằm chuẩn bị tốt cho giai đoạn thuộc nhóm nước thu nhập trung bình cao, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang gặp nhiều bất ổn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và xung đột giữa Nga-Ukraine dẫn đến lạm phát cao trên toàn thế giới, buộc các Ngân hàng trung ương toàn cầu phải thắt chặt tiền tệ, có nguy cơ gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu.

Với cách đặt vấn đề như vậy, các đại biểu tham dự tọa đàm tập trung thảo luận để nhận diện các nút thắt thể chế ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới; rà soát thể chế kinh tế vĩ mô của Việt Nam và các thể chế liên quan đến các thị trường, nhất là thị trường vốn để tìm ra các nút thắt có thể cản trở sự phát triển của Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao; khuyến nghị chính sách để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam trong giai đoạn tới.

Tại Tọa đàm, các đại biểu là các chuyên gia trong và ngoài nước đã cùng nhau trao đổi, thảo luận, phân tích các chiều kích phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam trong mối tương quan với các quốc gia khác dựa trên bộ chỉ số Economic Freedom of the World (EFW) do Fraser Institute của Canada xây dựng.

Tiến sỹ Fred McMahon, Trưởng nhóm nghiên cứu về tự do kinh tế tại Viện Fraser, Canada cho rằng, Việt Nam vẫn là một quốc gia tương đối nghèo và đây lại là một “lợi thế”. Ông phân tích điều này giúp Việt Nam sẽ dễ dàng hơn để bắt kịp các nền kinh tế hiện đại, nhờ thúc đẩy các cải tiến và cơ chế mới với chi phí thấp, tiền công thấp mà vẫn lôi kéo được đầu tư. Theo ông, “đòn bẩy” cho hạ tầng kinh tế sẽ giúp nâng cao thu nhập đầu người đồng thời tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế. Lợi thế khác, Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ với mức trung bình 6% trong vòng 10 năm qua, trong khi các quốc gia giàu hơn sẽ tăng trưởng chậm lại. Mặt khác, các quốc gia khác (như Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan) bắt kịp tốc độ tăng trưởng của Việt Nam nhưng "mờ nhạt" dần khi họ không thể cải thiện tự do kinh tế. Vì thế, vị chuyên gia này nhấn mạnh rằng, “tự do kinh tế sẽ tạo động lực vượt bẫy thu nhập trung bình, do đó để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và trở nên giàu có hơn, chính sách kinh tế sẽ phải trở nên cạnh tranh hơn”.

Đối diện và vượt qua bẫy thu nhập trung bình

Theo các chuyên gia, đa số các quốc gia thế giới khi chạm đến ngưỡng thu nhập trung bình cao thì tốc độ tăng trưởng chậm dần, nhiều bất ổn kinh tế xuất hiện mang tính cơ cấu rất khó giải quyết dứt điểm, trong khi lại phải đối mặt với nhiều vấn đề về già hoá dân số, an sinh xã hội, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên…

Ảnh minh họa
Rất ít các quốc gia vượt qua được bẫy thu nhập trung bình

Hệ quả là chỉ rất ít các quốc gia vượt qua được bẫy thu nhập trung bình để trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Bẫy thu nhập trung bình là khái niệm được dùng để chỉ những quốc gia có thời gian tăng trưởng nhanh và sớm nhanh chóng đạt tới ngưỡng thu nhập trung bình nhưng đáng tiếc, sau đó thất bại trong vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình để tiến lên trở thành các nền kinh tế thu nhập cao.

Nhìn lại nỗ lực cải cách, phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986 tới nay, Việt Nam liên tục xây dựng và điều chỉnh hệ thống pháp luật của mình để phù hợp với các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết.

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, Chính phủ đã kiên trì cải cách thể chế kinh tế thị trường theo hướng ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường hội nhập quốc tế đã mang đến cho Việt Nam một thể trạng kinh tế khoẻ mạnh hơn bao giờ hết, như dự trữ ngoại hối ở mức cao, tỷ lệ nợ công/GDP ở mức thấp, đầu tư nước ngoài, kim ngạch xuất, nhập khẩu liên tục năm sau hơn năm trước…

Cùng với đó, kể từ năm 2014, Chính phủ hàng năm đều ban hành Nghị quyết 19, sau này đổi thành Nghị quyết 02, để đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam.

Để khắc phục những khó khăn kép từ những bất cập nội tại và thách thức bủa vây kinh tế toàn cầu, ông Phạm Hồng Chương, cho rằng trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình cao và với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, việc cần phải tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Theo đó, đây là thời điểm quan trọng để Việt Nam xem xét, đánh giá thể chế kinh tế thị trường, rà soát thể chế kinh tế vĩ mô của Việt Nam như: khung khổ chính sách tín dụng, tỷ giá, tài khoá… và các thể chế liên quan đến các thị trường nhân tố, đặc biệt là thị trường vốn, để tìm ra các nút thắt có thể cản trở sự phát triển của Việt Nam khi trở thành nước thu nhập trung bình cao.

Đồng ý quan điểm trên, ông Đinh Tuấn Minh, Giám đốc nghiên cứu Trung tâm nghiên cứu giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế - xã hội (MASSEI), nhìn nhận trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế sau một quãng thời gian phát triển và đặc biệt sau đại dịch Covid, mọi hoạt động dường như đang chững lại và tạo ra một bầu không khí tương đối bi quan về triển vọng nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Vì vậy, "việc tìm được những nút thắt và tháo gỡ được thì có thể sẽ tạo ra một động lực phát triển kinh tế mới mà Việt Nam đã làm được trong những giai đoạn trước đây, đó chính là những cải cách rất mạnh mẽ về thể chế kinh tế thị trường", ông Minh chỉ rõ. Chỉ khi thể chế kinh tế mạnh mới có thể tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng và từ đó, đạt được khát vọng đến năm 2045, Việt Nam trở thành một nước có thu nhập cao, phát triển và hiện tại.

Dựa trên nghiên cứu về bộ chỉ số tự do kinh tế toàn cầu, Giám đốc MASSEI, nhấn mạnh hai điểm Việt Nam còn yếu và cần ưu tiên quan tâm trong cải cách thể chế.

Một là, duy trì đồng tiền tốt bằng cách tiếp tục kiên trì ổn định vĩ mô, đảm bảo lạm phát ổn định ở mức 3-4% trong những năm vừa qua. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xem xét lại chế độ tỷ giá hối đoái, cho phép nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường ngoại hối tại các sàn giao dịch, từ đó cải thiện tiêu chí “tự do sở hữu tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng”.

Hai là, tự do thương mại quốc tế. Cần rà soát lại các hàng rào phi thuế quan theo hướng rõ ràng, minh bạch và ổn định; kiên trì cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan để giảm chi phí thời gian liên quan đến các thủ tục bắt buộc. Đồng thời, rà soát lại các quy định về kiểm soát vốn, để thị trường vốn của Việt Nam hấp dẫn hơn nữa nhà đầu tư nước ngoài...

Huyền Trâm t/h

Bài liên quan
Tin bài khác
Ba động lực đưa kinh tế Bắc Ninh vào nhóm tăng trưởng dẫn đầu cả nước

Ba động lực đưa kinh tế Bắc Ninh vào nhóm tăng trưởng dẫn đầu cả nước

Kinh tế Bắc Ninh đang duy trì nhịp tăng trưởng cao khi GRDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 11,81%, đứng thứ tư cả nước. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng quý III đạt 13,83%, cao hơn đáng kể mức bình quân 9 tháng, cho thấy đà phục hồi và mở rộng sản xuất đang mạnh dần. Tuy nhiên, phía sau kết quả tích cực ấy vẫn là bài toán về mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI, tình trạng nhập siêu, sự phát triển chưa đồng đều giữa các ngành và những vướng mắc kéo dài trong giải phóng mặt bằng.
Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Chính sách cho người lao động khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang doanh nghiệp

Khi đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi thành công ty cổ phần, người lao động không chỉ được tiếp tục hưởng các chế độ về bảo hiểm mà còn có cơ hội mua cổ phần với giá ưu đãi, mua thêm cổ phần theo thời gian cam kết làm việc và được hưởng một số quyền lợi tài chính khác.
Hà Nội lần đầu ghi nhận tăng trưởng hai con số trong năm 2026

Hà Nội lần đầu ghi nhận tăng trưởng hai con số trong năm 2026

GRDP quý III/2026 của Hà Nội ước tăng 10,02%, mức cao nhất trong các quý từ đầu năm, đưa tăng trưởng của Thủ đô lần đầu vượt ngưỡng hai con số. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu GRDP tăng từ 11% trở lên trong cả năm, Hà Nội vẫn còn khối lượng công việc lớn trong quý IV.
Lào Cai mở “luồng xanh”, rút ngắn thời gian đưa dự án đầu tư vào thực tế

Lào Cai mở “luồng xanh”, rút ngắn thời gian đưa dự án đầu tư vào thực tế

Đối với doanh nghiệp, thời gian chờ hoàn tất thủ tục cũng là một loại chi phí. Việc Lào Cai triển khai cơ chế “luồng xanh” cho các dự án đầu tư ngoài ngân sách vì thế không chỉ mang ý nghĩa cải cách hành chính, mà đang từng bước biến tốc độ xử lý hồ sơ thành lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư.
Dông lốc, mưa lớn gây thiệt hại hơn 500 triệu đồng tại ba xã ở Lào Cai

Dông lốc, mưa lớn gây thiệt hại hơn 500 triệu đồng tại ba xã ở Lào Cai

Dông lốc, mưa lớn xảy ra tại các xã Bảo Hà, Mường Bo và Phong Hải đã gây thiệt hại ước tính hơn 500 triệu đồng. Các địa phương đang huy động lực lượng khắc phục hậu quả, thông tuyến giao thông và rà soát những khu vực có nguy cơ mất an toàn.
Lào Cai tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm tại bữa ăn đông người

Lào Cai tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm tại bữa ăn đông người

An toàn thực phẩm không chỉ phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu mà còn được quyết định bởi từng khâu sơ chế, chế biến, bảo quản và phục vụ. Đây cũng là lý do Lào Cai tập trung kiểm soát những khu vực có nguy cơ cao, nhất là các bữa ăn tập trung đông người, dịch vụ nấu ăn lưu động và thức ăn đường phố.
TP. Hồ Chí Minh: Mở rộng đầu ra, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ

TP. Hồ Chí Minh: Mở rộng đầu ra, nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ

TP. Hồ Chí Minh triển khai loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng trong nước, quốc tế.
Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

Nhu cầu tuyển dụng tăng, Đồng Nai cần gần 5.000 lao động

20 doanh nghiệp tham gia Sàn giao dịch việc làm tháng 10 tại Đồng Nai đang có nhu cầu tuyển gần 5.000 lao động, chủ yếu ở các vị trí sản xuất trực tiếp, kỹ thuật và lao động có tay nghề, trong bối cảnh đơn hàng cuối năm có xu hướng gia tăng.
Tăng trợ cấp hưu trí xã hội lên 540.000 đồng/tháng từ ngày 5/10

Tăng trợ cấp hưu trí xã hội lên 540.000 đồng/tháng từ ngày 5/10

Khoảng 2,5 triệu người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội trên cả nước được áp dụng mức mới 540.000 đồng/người/tháng, tăng 8% so với trước.
Hơn 15,5 nghìn tỷ đồng vốn chính sách tiếp sức sinh kế tại Bắc Ninh

Hơn 15,5 nghìn tỷ đồng vốn chính sách tiếp sức sinh kế tại Bắc Ninh

Nguồn vốn tín dụng chính sách tại thành phố Bắc Ninh tiếp tục được bổ sung mạnh, mở rộng khả năng tiếp cận vốn ưu đãi của hộ nghèo và các nhóm đối tượng chính sách. Điểm đáng chú ý là nguồn ngân sách địa phương ủy thác đã vượt hơn hai lần kế hoạch tăng trưởng được giao.
Tuyên Quang kiện toàn quản lý địa chất, khoáng sản theo hướng rõ đầu mối

Tuyên Quang kiện toàn quản lý địa chất, khoáng sản theo hướng rõ đầu mối

Việc quy chức năng tham mưu quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản về Sở Công Thương không đơn thuần là thay đổi cơ quan phụ trách. Yêu cầu quan trọng hơn là hồ sơ, tài liệu và các phần việc đang xử lý phải được chuyển giao đồng bộ, bảo đảm hoạt động quản lý không bị đứt quãng.
Huế tăng cường kiểm tra định kỳ, đột xuất các bếp ăn tập thể

Huế tăng cường kiểm tra định kỳ, đột xuất các bếp ăn tập thể

Sở Y tế TP Huế sẽ tăng cường kiểm tra định kỳ, đột xuất các bếp ăn tập thể, cơ sở cung cấp suất ăn, nhất là những nơi phục vụ số lượng lớn người ăn.
Thời tiết hôm nay 5/10: Hà Nội lạnh về đêm và sáng sớm

Thời tiết hôm nay 5/10: Hà Nội lạnh về đêm và sáng sớm

Thời tiết hôm nay 5/10, Bắc Bộ trời se lạnh; Trung Bộ có mưa vừa, mưa to do ảnh hưởng của không khí lạnh; Nam Bộ ngày nắng mạnh, chiều tối có mưa dông, cục bộ có điểm mưa to.
Hà Tĩnh định hình cực tăng trưởng phía Tây từ Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo

Hà Tĩnh định hình cực tăng trưởng phía Tây từ Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo

Hà Tĩnh đang cụ thể hóa Quy hoạch chung Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đến năm 2045, tập trung khớp nối hạ tầng, điều chỉnh các phân khu chức năng và ưu tiên nguồn lực cho công nghiệp, logistics, thương mại, dịch vụ và du lịch.
Phú Thọ đặt mục tiêu hoàn thành di dời 11 nhà máy trước năm 2030

Phú Thọ đặt mục tiêu hoàn thành di dời 11 nhà máy trước năm 2030

Phú Thọ đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành di dời các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm, không còn phù hợp quy hoạch khỏi Việt Trì vào năm 2030.