Khoảng cách hàng tỷ USD cần được thu hẹp
Khoảng 300 nghìn lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế tại Việt Nam mỗi năm, với tổng mức chi tiêu ước 1-2 tỷ USD, bao gồm cả dịch vụ y tế, lưu trú, đi lại và ăn uống.
Nhưng con số đáng chú ý hơn nằm ở chiều ngược lại. Người Việt Nam mỗi năm chi khoảng 2-3 tỷ USD cho khám bệnh, chữa bệnh ở nước ngoài, cao hơn toàn bộ nguồn thu hiện có từ khách du lịch y tế quốc tế.
![]() |
| Du lịch y tế là khái niệm dành cho nhóm khách hàng hay bệnh nhân có nhu cầu khám chữa bệnh, kết hợp tiện thể du lịch ở xa nơi cư trú của mình. Dịch vụ Du lịch y tế là dịch vụ hai trong một. Dịch vụ Du lịch y tế chỉ có ý nghĩa khi nó đáp ứng được ba tiêu chí: An toàn, thoải mái và giá cả phải chăng. Dịch vụ này phần lớn là trọn gói hay còn gọi là Medical Toursim Package Services. |
Đây là bài toán không chỉ của ngành y tế. Nếu giải quyết được chất lượng dịch vụ, khả năng kết nối với du lịch và trải nghiệm của người bệnh, dòng tiền đang chảy ra nước ngoài có thể trở thành một phần thị trường trong nước.
Hiện khách quốc tế đến Việt Nam sử dụng dịch vụ y tế chủ yếu là kiều bào và khách từ Campuchia, Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia cùng một số nước châu Âu. Các dịch vụ được lựa chọn gồm nha khoa thẩm mỹ, hỗ trợ sinh sản, thẩm mỹ, khám sức khỏe tổng quát và một số chuyên khoa kỹ thuật cao.
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Khánh Hòa và một số địa phương khác đang hình thành những sản phẩm theo lợi thế riêng, từ y tế chuyên sâu, đội ngũ giáo sư, bác sĩ đầu ngành đến nghỉ dưỡng và y học cổ truyền.
Lợi thế đã có nhưng cần được đóng gói thành sản phẩm
Việt Nam hiện có khoảng 100 cơ sở y tế chuyên sâu, trong đó 13 bệnh viện đạt tiêu chuẩn JCI, tập trung tại Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiều cơ sở đã làm chủ những kỹ thuật phức tạp như phẫu thuật robot, ghép tạng, can thiệp tim mạch, điều trị ung thư, hỗ trợ sinh sản cùng các kỹ thuật chuyên sâu về mắt, tai mũi họng và răng hàm mặt.
Bên cạnh y học hiện đại, y học cổ truyền với châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp và dược liệu truyền thống là lợi thế riêng của Việt Nam. Đây cũng là nhóm dịch vụ có khả năng kết hợp tự nhiên với phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng.
Tiến sĩ Hà Anh Đức - Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho rằng các đơn vị, địa phương cần định vị lĩnh vực mũi nhọn để đầu tư, phát triển. Theo ông, y học cổ truyền và phục hồi chức năng có lợi thế độc bản về dược liệu, trị liệu không dùng thuốc và có sức hấp dẫn đối với du khách phương Tây.
| Bệnh viện đạt tiêu chuẩn JCI là gì? JCI (Joint Commission International) là tổ chức quốc tế của Mỹ chuyên đánh giá và kiểm định chất lượng các cơ sở y tế trên thế giới. Bệnh viện đạt chuẩn JCI phải đáp ứng hệ thống tiêu chí nghiêm ngặt về an toàn người bệnh, chất lượng khám chữa bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý thuốc, năng lực nhân viên và quy trình vận hành. Đây được xem là một trong những bộ tiêu chuẩn quốc tế uy tín về chất lượng và an toàn bệnh viện, giúp người bệnh có thêm cơ sở đánh giá mức độ chuyên nghiệp, an toàn của cơ sở y tế. |
Thương hiệu quốc gia là bước đi then chốt
Bộ Y tế đang phối hợp các bộ, ngành xây dựng Đề án “Phát triển Du lịch y tế giai đoạn 2026-2030”. Mục tiêu là đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch y tế có sức cạnh tranh tại Đông Nam Á, từng bước tiến vào nhóm dẫn đầu châu Á.
Đề án chia thành hai giai đoạn 2026-2028 và 2029-2030. Đến năm 2030, Việt Nam dự kiến có ít nhất 20 bệnh viện đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, 30 gói sản phẩm du lịch y tế được chuẩn hóa, đồng thời vận hành Cổng thông tin du lịch y tế quốc gia đa ngôn ngữ và Cơ sở dữ liệu du lịch y tế quốc gia.
Đáng chú ý, bộ nhận diện thương hiệu quốc gia “Du lịch y tế Việt Nam” sẽ được ban hành và triển khai thống nhất. Mục tiêu đặt ra là đón khoảng 750 nghìn lượt khách du lịch y tế quốc tế, đạt khoảng 1 tỷ USD doanh thu trực tiếp từ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, trong khi tổng chi tiêu của khách và người đi cùng khoảng 2,5 tỷ USD.
Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Đỗ Tất Cường - Chủ tịch Hội đồng cố vấn lâm sàng Hệ thống y tế Vinmec, cho rằng cần sự vào cuộc của nhiều bộ, ngành và địa phương. Ông đề xuất truyền thông tích hợp y tế-du lịch-văn hóa trên thị trường quốc tế, phát triển nền tảng thông tin đa ngôn ngữ, có chính sách Visa du lịch y tế cho bệnh nhân và người thân, đồng thời phát triển các dịch vụ phụ trợ như di chuyển, lưu trú và tham quan.
Ở cấp cơ sở, yêu cầu cũng rất rõ: có gói dịch vụ, minh bạch chi phí và bảo đảm chất lượng chuyên môn sâu, đa chuyên khoa dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chuyên môn.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Bính - Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội, nhấn mạnh chất lượng và an toàn phải là nền tảng, lấy người bệnh quốc tế làm trung tâm. Ông đề xuất xây dựng hệ sinh thái du lịch nha khoa Việt Nam, hình thành Vietnam Dental Tourism Network và tập trung các sản phẩm như Implant nha khoa, phục hình toàn hàm, nha khoa thẩm mỹ, nha khoa kỹ thuật số, chỉnh nha.
Hà Nội cũng đang xây dựng Đề án phát triển du lịch y tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tiến sĩ Nguyễn Đình Hưng, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội, cho biết Thành phố đang từng bước xây dựng và quảng bá thương hiệu “Hà Nội-Trung tâm y tế chất lượng cao của Việt Nam”, hướng tới trở thành điểm đến chăm sóc sức khỏe và du lịch y tế hàng đầu Đông Nam Á.
Như vậy, bài toán của Việt Nam không còn chỉ là có dịch vụ y tế tốt. Thách thức lớn hơn là biến năng lực y tế, tài nguyên du lịch, y học cổ truyền và lợi thế chi phí thành một sản phẩm có tiêu chuẩn, có thương hiệu và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Việc xây dựng bộ tiêu chuẩn cho bệnh viện, phòng khám, cơ sở y tế tham gia mạng lưới cùng cơ chế giá dịch vụ và hoạt động quảng bá quốc tế sẽ là những mắt xích quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030.