Hoạt động thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu hàng hóa trong 10 tháng năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều điểm sáng, phản ánh sự mở rộng của thị trường trong nước cũng như quy mô giao thương quốc tế. Đặc biệt, việc tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD cho thấy hoạt động thương mại đối ngoại đang tăng trưởng mạnh, dù áp lực nhập siêu cũng đặt ra những vấn đề cần quan tâm.
Theo số liệu thống kê, hoạt động thương mại và dịch vụ trong tháng 10/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 695,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Tính chung 10 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 6.618,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 7,7%, cao hơn mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm 2025.
Xét theo từng nhóm ngành, doanh thu bán lẻ hàng hóa tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ yếu với 4.981,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 75,3% tổng mức và tăng 12,9%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 847 nghìn tỷ đồng, tăng 17%; dịch vụ du lịch lữ hành đạt 87,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1%; doanh thu các dịch vụ khác đạt 703,2 nghìn tỷ đồng, tăng 13,6%.
Trong tháng 10, doanh thu bán lẻ của hầu hết nhóm hàng đều tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 25,3% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,5%; hàng may mặc tăng 12,6%; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và các phương tiện có động cơ khác tăng 12,5%.
Ở lĩnh vực dịch vụ, doanh thu du lịch lữ hành trong tháng 10 tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 19,5% và các dịch vụ khác tăng 15,7%. Những kết quả này cho thấy nhu cầu tiêu dùng và các hoạt động dịch vụ tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng thị trường trong nước.
Xét theo địa phương, doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng tăng khá tại nhiều tỉnh, thành phố. Đà Nẵng dẫn đầu trong nhóm địa phương được thống kê với mức tăng 14%, tiếp đến là Quảng Ninh tăng 13,5%, Lâm Đồng tăng 13,4%, Hải Phòng tăng 13,3%, Đồng Nai tăng 12,8%, Hà Nội tăng 12,6% và TP. Hồ Chí Minh tăng 12,3%.
Đối với dịch vụ lưu trú, ăn uống, Huế tăng 20,3%, Đà Nẵng tăng 20,2%, Quảng Ninh tăng 20%, Lâm Đồng tăng 19,4% và Khánh Hòa tăng 18,7%. Trong khi đó, doanh thu du lịch lữ hành tăng mạnh tại Lâm Đồng với 35%, Khánh Hòa tăng 30,4%, Huế tăng 28,8% và Quảng Ninh tăng 25,6%.
Đáng chú ý, doanh thu các dịch vụ khác tại Quảng Ninh tăng 33,2%, Huế tăng 27,8%, Đà Nẵng tăng 23,4% và Ninh Bình tăng 21,3%.
Diễn biến tích cực ở nhiều nhóm ngành và địa phương cho thấy thị trường dịch vụ đang mở rộng, trong đó du lịch, lưu trú và ăn uống tiếp tục là những lĩnh vực đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của hoạt động tiêu dùng.
![]() |
| Thương mại Việt Nam bứt tốc, xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD sau 10 tháng |
Một trong những điểm nhấn đáng chú ý của bức tranh kinh tế 10 tháng năm 2026 là quy mô xuất nhập khẩu hàng hóa lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD.
Theo số liệu sơ bộ, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 10 đạt 122,03 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 47,4% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 10 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, phản ánh sự mở rộng mạnh mẽ của hoạt động giao thương quốc tế và vai trò ngày càng lớn của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 499,24 tỷ USD, tăng 27,5%; nhập khẩu đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4%. Như vậy, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu 9,9 điểm phần trăm, khiến cán cân thương mại hàng hóa chuyển sang nhập siêu 12,07 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 19,49 tỷ USD.
Trong tháng 10/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 64,67 tỷ USD, tăng 8,7% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,94 tỷ USD, tăng 4,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 54,73 tỷ USD, tăng 9,5%.
So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tháng 10 tăng 51,4%. Đáng chú ý, khu vực FDI tăng 61,2%, trong khi khu vực kinh tế trong nước tăng 13,5%.
Tính chung 10 tháng, khu vực kinh tế trong nước đạt kim ngạch xuất khẩu 93,93 tỷ USD, tăng 8,2%, chiếm 18,8% tổng kim ngạch. Trong khi đó, khu vực FDI đạt 405,31 tỷ USD, tăng 33%, chiếm tới 81,2%.
Cơ cấu này tiếp tục cho thấy vai trò chủ đạo của khu vực FDI trong hoạt động xuất khẩu, đồng thời phản ánh yêu cầu nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng và giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước.
Xét theo nhóm hàng, 10 tháng năm 2026 có 37 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,9% tổng kim ngạch; trong đó, 8 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 73,4%.
Điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất với 149,41 tỷ USD, tăng 71% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 63,27 tỷ USD, tăng 30,4%; điện thoại và linh kiện đạt 57,61 tỷ USD, tăng 18,4%; hàng dệt may đạt 33,74 tỷ USD, tăng 2,2%; giày dép đạt 20,24 tỷ USD, tăng 1,8%.
Các nhóm hàng khác cũng ghi nhận kim ngạch đáng kể như phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 16,94 tỷ USD, tăng 17,1%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 15,01 tỷ USD, tăng 6,8%; thủy sản đạt 10,37 tỷ USD, tăng 10,9%.
Về cơ cấu, nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo với 452,74 tỷ USD, tương đương 90,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 33,48 tỷ USD, chiếm 6,7%; thủy sản đạt 10,36 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,66 tỷ USD, chiếm 0,5%.
Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2026 đạt 57,36 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước nhưng tăng 43,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,45 tỷ USD, tăng 2,4% so với tháng trước; khu vực FDI đạt 43,91 tỷ USD, giảm 2,6%.
Lũy kế 10 tháng, kim ngạch nhập khẩu đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước đạt 131,76 tỷ USD, tăng 23%; khu vực FDI đạt 379,55 tỷ USD, tăng 43,2%.
Đáng chú ý, có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm 95% tổng kim ngạch; trong đó, 8 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 67,3%.
Điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục là nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất với 215,25 tỷ USD, tăng 74,4%. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 60,06 tỷ USD, tăng 21,1%.
Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu khác gồm vải đạt 12,88 tỷ USD, tăng 2,8%; kim loại thường khác đạt 12,57 tỷ USD, tăng 36,2%; chất dẻo đạt 11,55 tỷ USD, tăng 11,1%; ô tô đạt 11,19 tỷ USD, tăng 31,2%; xăng dầu đạt 10,24 tỷ USD, tăng 79,1% và sản phẩm chất dẻo đạt 10,2 tỷ USD, tăng 15,5%.
Xét theo cơ cấu, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 481,03 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,5%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,6%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 30,28 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Tỷ trọng lớn của nhóm hàng tư liệu sản xuất cho thấy phần đáng kể kim ngạch nhập khẩu phục vụ nhu cầu đầu vào cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, tốc độ tăng nhập khẩu cao cũng khiến cán cân thương mại chịu sức ép lớn hơn trong những tháng đầu năm.
Về thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng năm 2026 với kim ngạch đạt 159,4 tỷ USD. Trong khi đó, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất, đạt 212,46 tỷ USD.
Đáng chú ý, Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 140,1 tỷ USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU đạt 40,84 tỷ USD, tăng 26,8%; xuất siêu sang Nhật Bản đạt 3,42 tỷ USD, tăng 110,4%.
Ở chiều nhập khẩu, nhập siêu từ Trung Quốc đạt 134,94 tỷ USD, tăng 43,2%; từ Hàn Quốc đạt 48,63 tỷ USD, tăng 91,1%; từ ASEAN đạt 16,93 tỷ USD, tăng 46%.
Riêng trong tháng 10, cán cân thương mại hàng hóa ghi nhận xuất siêu 7,31 tỷ USD, sau mức xuất siêu 1,3 tỷ USD trong tháng 9. Đây là tháng thứ hai liên tiếp Việt Nam đạt xuất siêu trong năm 2026.
Tuy nhiên, tính chung 10 tháng, cán cân thương mại vẫn nhập siêu 12,07 tỷ USD. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 37,83 tỷ USD, còn khu vực FDI (kể cả dầu thô) xuất siêu 25,76 tỷ USD.
Việc tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD là dấu mốc đáng chú ý đối với hoạt động thương mại của Việt Nam trong năm 2026. Dù vậy, chênh lệch giữa tốc độ tăng xuất khẩu và nhập khẩu, cùng sự phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, tiếp tục đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Đây cũng là những yếu tố quan trọng để hoạt động xuất nhập khẩu không chỉ mở rộng về quy mô mà còn cải thiện chất lượng tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động của thương mại toàn cầu.
