![]() |
| Do chưa có đủ sách giáo khoa, học sinh Trường phổ thông nội trú Tiểu học - THCS Buôn Đôn phải mượn sách của các khóa trước để học tạm. Ảnh: Nguyễn Dung/TTXVN, Báo ảnh Dân tộc và Miền núi |
Tôi và Lam học cùng lớp. Cả hai đều mê Toán, đứa nào cũng muốn giữ cuốn sách lâu hơn một chút. Nhưng hai đứa chỉ có một quyển sách Toán để dùng chung. Một người giữ sách Toán, người kia giữ sách Tiếng Việt; sau hai hoặc ba ngày lại đổi cho nhau.
Những đứa trẻ khi ấy tự tìm cách thích nghi, đổi sách, ngồi sát lại để cùng học. Nhưng nhìn lại, tôi không muốn phủ lên cảnh ấy màu sắc đẹp đẽ của sự sẻ chia. Phía sau hai mái đầu cùng cúi xuống một trang sách vẫn là một thực tế: việc học của một đứa trẻ phụ thuộc vào cuốn sách hôm đó đang nằm trong tay ai.
Đó là câu chuyện đầu những năm 1970 tại làng Văn Trường, xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Giáo dục miền Bắc giai đoạn ấy vận hành giữa bom đạn, trường lớp phải sơ tán, việc in ấn và vận chuyển thiếu thốn đủ đường. Chuyện thiếu sách khi đó là giới hạn bất khả kháng của lịch sử.
Tôi không có tư liệu để khẳng định cảnh hai, ba học sinh dùng chung một cuốn sách khi ấy phổ biến đến đâu. Tôi chỉ có thể kể lại điều mình từng trải qua. Trong ký ức của tôi, số sách được đưa về ít hơn số học sinh. Vì thế, một cuốn sách không chỉ thuộc về một người.
Tôi từng nghĩ hình ảnh ấy đã nằm lại trong quá khứ, cho đến khi đọc những thông tin về tình trạng thiếu sách giáo khoa sau khai giảng năm học 2026–2027.
Tại Trường Phổ thông nội trú Tiểu học – THCS Buôn Đôn (Đắk Lắk), nhà trường bước vào năm học mới nhưng vẫn còn thiếu khoảng 65% sách giáo khoa. Nhiều lớp học phải tổ chức cho hai em dùng chung một bộ, thậm chí ba em cùng nhìn vào một cuốn. Để duy trì tiết học, thầy cô phải chắp vá bằng sách cũ, mượn tạm sách điện tử hoặc linh hoạt đổi phương pháp giảng bài.
![]() |
| Nhiều học sinh Trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Buôn Đôn, xã Buôn Đôn, tỉnh Đắk lắk chưa có đủ sách giáo khoa để học. Ảnh: Nguyễn Dung/TTXVN, Báo ảnh Dân tộc và Miền núi |
Sự tương đồng về hình ảnh giữa hai thời điểm cách nhau hơn 50 năm khiến nhiều người chạnh lòng. Nhưng không thể đánh đồng hoàn cảnh. Đầu thập niên 1970 là đất nước trong khói lửa chiến tranh. Còn năm 2026 là thời bình, khi tiềm lực kinh tế, năng lực in ấn và công nghệ hậu cần (logistics) đã đi trước thời xưa những bước rất dài.
Theo số liệu từ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tính đến ngày 9/9, đơn vị đã phát hành 235,6 triệu bản sách giáo khoa. Về mặt lý thuyết, nguồn in không thiếu. Điểm nghẽn nằm ở các mắt xích: dự báo nhu cầu, đặt hàng, lưu kho và phân phối cục bộ.
Một lượng sách khổng lồ đã rời nhà in, nhưng những con số vĩ mô không thể tự động bảo đảm rằng mỗi đứa trẻ đã có sách trên bàn.
Ngày 21/8/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các địa phương rà soát và cung ứng xong trước ngày 30/8. Nhưng sau khai giảng, một công điện khác lại phải phát đi, gia hạn hoàn thành trước 15/9. Việc phải nhắc lại một yêu cầu tưởng như đã xong phản ánh khoảng cách rất lớn giữa những mệnh lệnh điều hành trên giấy tờ với cuốn sách thực tế mở ra trong lớp học.
Những nỗ lực xoay xở của giáo viên vùng cao rất đáng trân trọng, nhưng giải pháp tình thế không thể trở thành chuẩn mực bình thường. Sách điện tử hay dùng chung sách có thể giải quyết được tình thế trên lớp, nhưng không thể giúp một đứa trẻ chủ động tự học ở nhà khi không có thiết bị, hoặc phải mòn mỏi chờ bạn học xong mới đến lượt mình.
Quy trình phát hành có thể xem là hoàn tất trên văn bản đối với các cơ quan quản lý. Nhưng với một đứa trẻ, quy trình ấy chỉ thực sự kết thúc khi cuốn sách nằm ngay ngắn trên bàn học của các em lúc tiếng trống trường vang lên. Quyền học tập không chỉ dừng lại ở một chỗ ngồi trong lớp, mà phải gắn liền với những điều kiện cơ bản nhất để tự chủ việc học.
Hơn nửa thế kỷ trước, thế hệ chúng tôi đã chụm đầu bên cuốn sách Toán để tìm lời giải cho những bài học thời thơ ấu. Còn hôm nay, bài toán không còn nằm trên trang giấy nữa. Đó là phần việc của người lớn: làm sao để không đứa trẻ nào phải chờ đến lượt mình mới có cuốn sách cần thiết cho việc học.